Thị trường hàng hóa tuần qua 12/10 - 18/10: Heo hơi giảm sâu, gạo nguyên liệu đi lên

Thu Trang | 09:44 18/10/2026

Giá heo hơi chịu áp lực giảm mạnh, vùng 50.000 đồng/kg ngày càng mở rộng; trong khi gạo nguyên liệu xuất khẩu có xu hướng cải thiện.

Thị trường hàng hóa tuần qua 12/10 - 18/10: Heo hơi giảm sâu, gạo nguyên liệu đi lên

Heo hơi giảm sâu, vùng 50.000 đồng/kg mở rộng

Heo hơi là mặt hàng biến động mạnh nhất trong tuần. Ngày 12/10, giá trên cả nước còn dao động trong khoảng 51.000 - 54.000 đồng/kg, phần lớn địa phương giữ giá sau chuỗi giảm trước đó. 

Thị trường xuất hiện nhịp phục hồi ngắn vào ngày 14/10, khi 5 địa phương miền Bắc gồm Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Nội, Phú Thọ và Hưng Yên đồng loạt tăng 1.000 đồng/kg lên 54.000 đồng/kg. Tuy nhiên, tín hiệu này nhanh chóng bị đảo ngược. 

Ngày 17/10, mức cao nhất cả nước giảm còn 53.000 đồng/kg và mốc 54.000 đồng/kg không còn xuất hiện. Sang ngày 18/10, thêm 13 địa phương giảm 1.000 đồng/kg. Miền Bắc chỉ còn 51.000 - 52.000 đồng/kg; trong khi vùng giá 50.000 đồng/kg mở rộng tại Đà Nẵng, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa và Vĩnh Long. Mặt bằng chung cả nước hiện ở 50.000 - 53.000 đồng/kg.

25259a91-8424-4cd2-8e72-ba68d4984b6f.png

Diễn biến trong tuần cho thấy nhịp tăng ngày 14/10 chủ yếu mang tính cục bộ và chưa đủ đảo chiều xu hướng. Việc mức giá trần liên tục hạ từ 54.000 xuống 53.000 đồng/kg, đồng thời vùng 50.000 - 51.000 đồng/kg mở rộng, cho thấy áp lực giảm vẫn hiện hữu. Thị trường có thể cần thêm tín hiệu cải thiện về sức mua trước khi hình thành một nhịp phục hồi rõ ràng.

Gạo nguyên liệu có xu hướng tăng

Trái chiều với heo hơi, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu trong nước có tín hiệu cải thiện rõ hơn trong tuần.

anh-man-hinh-2026-10-18-luc-08.28.38.png
Biến động giá gạo nguyên liệu xuất khẩu trong nước từ 12/10 - 18/10/2026

Ngày 12 - 13/10, thị trường tương đối ổn định. Gạo CL 555 dao động 8.700 - 8.750 đồng/kg, IR 504 ở 8.600 - 8.750 đồng/kg; OM 5451 giữ 9.300 - 9.400 đồng/kg. 

Từ ngày 14/10, xu hướng tăng bắt đầu rõ hơn. CL 555 tăng 50 đồng/kg lên 8.750 - 8.800 đồng/kg, IR 504 tăng 100 đồng/kg lên 8.700 - 8.800 đồng/kg. Một ngày sau, CL 555 tiếp tục tăng thêm 50 đồng/kg, đạt 8.800 - 8.850 đồng/kg. 

Đáng chú ý, ngày 17/10, IR 504 tăng mạnh 200 đồng/kg lên 8.900 - 9.000 đồng/kg, trong khi CL 555 tăng lên 8.800 - 8.900 đồng/kg. 

Đến ngày 18/10, CL 555 tăng thêm 50 đồng/kg, duy trì 8.800 - 8.900 đồng/kg; IR 504 điều chỉnh nhẹ 50 đồng/kg xuống 8.800 - 8.950 đồng/kg. Tấm tăng 150 đồng/kg lên 9.350 - 9.500 đồng/kg, cám đạt 7.900 - 8.350 đồng/kg.

Trong khi thị trường nội địa biến động, giá gạo xuất khẩu tương đối ổn định. Cuối tuần, gạo Jasmine Việt Nam vẫn ở 515 - 519 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm 440 - 445 USD/tấn và gạo thơm 100% tấm 371 - 375 USD/tấn.

So với đầu tuần, mặt bằng giá một số loại gạo nguyên liệu đã được nâng lên, nổi bật ở CL 555 và IR 504. Tuy nhiên, giá xuất khẩu gần như đi ngang và hoạt động mua bán tại Đồng bằng sông Cửu Long chưa thực sự sôi động. Vì vậy, xu hướng tăng hiện vẫn tập trung ở một số chủng loại thay vì lan rộng toàn thị trường.

Cao su biến động mạnh, giá xuất khẩu lập đỉnh gần 13 năm

Cao su trải qua một tuần biến động đáng kể. Đầu tuần, thị trường quốc tế tăng mạnh. Đến ngày 14/10, giá cao su tiêu chuẩn SMR 20 tại Malaysia tăng lên 1.074,5 sen/kg, mức cao nhất kể từ tháng 5/2012. Tuy nhiên, thị trường nhanh chóng chuyển sang điều chỉnh. 

Ngày 16/10, các sàn lớn đồng loạt giảm. SHFE tháng 11 mất 2,85% xuống 18.890 Nhân dân tệ/tấn; SGX tháng 11 giảm 2,89% xuống 252 Cent/kg; TOCOM tháng 11 giảm 1,07% còn 448 Yên/kg.

Điểm đáng chú ý nhất trong tuần lại đến từ hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Trong 9 tháng năm 2026, giá cao su xuất khẩu bình quân đạt 2.022 USD/tấn, tăng 14,4% so với cùng kỳ. Riêng tháng 9 đạt 2.323 USD/tấn, tăng 29,8% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất trong gần 13 năm. 

Đến ngày 18/10, thị trường thế giới tiếp tục phân hóa: SGX tăng 0,24 - 0,47%, SHFE giảm nhẹ 0,08 - 0,10%, còn TOCOM đi ngang. Giá thu mua cao su tại các doanh nghiệp trong nước nhìn chung ổn định.

Cao su đã chuyển từ trạng thái tăng mạnh đầu tuần sang giằng co và phân hóa vào cuối tuần. Diễn biến tiếp theo sẽ phụ thuộc vào nguồn cung cao su tự nhiên tại Đông Nam Á, nhu cầu từ Trung Quốc và biến động trên các thị trường kỳ hạn.

Hồ tiêu giữ mặt bằng cao

bb22e258-7f3e-40f4-8d17-0674bc67c8a1.png

Giá hồ tiêu trong nước nhìn chung giữ được xu hướng tích cực trong tuần. Ngày 12/10, giá dao động 136.500 - 140.000 đồng/kg, sau khi vừa tăng 1.000 đồng/kg trong phiên trước. 

Ngày 14/10, giá tiếp tục tăng 500 - 1.000 đồng/kg tại phần lớn vùng sản xuất trọng điểm, đưa mặt bằng lên 137.500 - 140.000 đồng/kg. Đắk Nông (Lâm Đồng) giữ mức cao nhất 140.000 đồng/kg. 

Ngày 18/10, thị trường trong nước nhìn chung giữ giá quanh vùng cuối tuần, trong khi thị trường quốc tế tiếp tục phân hóa. Giá xuất khẩu tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l duy trì 5.950 USD/tấn, loại 550 g/l ở 5.995 USD/tấn và tiêu trắng ở mức 8.450 USD/tấn.

Hồ tiêu là một trong những mặt hàng giữ giá tốt trong tuần, với mặt bằng cuối kỳ cao hơn đầu tuần. Tuy nhiên, sau khi tiến sát và vượt 140.000 đồng/kg tại vùng giá cao, thị trường đang bước vào trạng thái tích lũy. Khả năng tăng tiếp sẽ phụ thuộc nhiều vào lực mua của doanh nghiệp và nhu cầu xuất khẩu.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Thị trường hàng hóa tuần qua 12/10 - 18/10: Heo hơi giảm sâu, gạo nguyên liệu đi lên
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO