Thị trường ngày 1/10: Dầu vẫn biến động mạnh, vàng chịu áp lực, cao su bật tăng mạnh

Ngọc Mai | 10:38 01/10/2026

Giá dầu duy trì ở vùng cao sau tháng 9 tăng mạnh, vàng bước vào tháng 10 sau khi giảm khoảng 6%, trong khi cao su Nhật Bản tăng gần 2% và cao su Thượng Hải tăng hơn 5%. Thị trường kim loại công nghiệp phân hóa, còn nông sản chịu tác động từ nguồn cung lớn và những thay đổi trong thương mại Mỹ - Trung.

Thị trường ngày 1/10: Dầu vẫn biến động mạnh, vàng chịu áp lực, cao su bật tăng mạnh

Chứng khoán châu Á trầm lắng

Thị trường chứng khoán châu Á khởi đầu tháng 10 trong trạng thái thận trọng sau một tháng 9 đầy biến động. Chỉ số MSCI rộng nhất của cổ phiếu châu Á - Thái Bình Dương ngoài Nhật Bản giảm 0,2%, trong khi KOSPI của Hàn Quốc giảm 0,14%. Ngược lại, Nikkei của Nhật Bản tăng hơn 1% khi nhóm cổ phiếu sản xuất chip đi lên. Hợp đồng tương lai Nasdaq và S&P 500 cùng tăng 0,3%, trong khi hợp đồng tương lai chứng khoán châu Âu giảm 0,75%.

Lợi nhuận mạnh của Micron không đủ cải thiện tâm lý thị trường, khi nhà đầu tư tiếp tục quan tâm tới triển vọng nhu cầu trí tuệ nhân tạo, thị trường bộ nhớ và nguy cơ tình trạng thiếu hụt bộ nhớ đang tiến gần tới đỉnh. Trong khi đó, triển vọng kinh tế vĩ mô trở nên phức tạp hơn khi dữ liệu kinh tế Mỹ yếu hơn làm giảm áp lực đối với kỳ vọng lãi suất, nhưng lợi suất trái phiếu dài hạn vẫn ở mức cao, khiến chi phí vốn tiếp tục là mối quan tâm lớn.

Lợi suất trái phiếu tăng mạnh trong tháng 9 trong bối cảnh giá năng lượng cao làm gia tăng lo ngại lạm phát, trong khi sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo thúc đẩy kỳ vọng tăng trưởng kinh tế. Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm từng lên 5,306%, cao nhất kể từ giữa tháng 6/2007, trong khi lợi suất kỳ hạn 30 năm đạt 5,634%, sau khi chạm 5,6517% trong phiên trước, mức cao nhất kể từ tháng 6/2002. Thị trường hiện đặc biệt quan tâm liệu lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ có thể duy trì trên ngưỡng tâm lý 5% trong bao lâu.

Lạm phát Mỹ thấp hơn dự kiến

Dữ liệu lạm phát Mỹ thấp hơn dự kiến. Báo cáo công bố ngày 30/9 cho thấy chỉ số giá Chi tiêu Tiêu dùng Cá nhân (PCE) tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước trong tháng 8, thấp hơn mức dự báo 3,7% của các nhà kinh tế được Reuters khảo sát. Dữ liệu GDP quý II đồng thời cho thấy nền kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh.

Theo công cụ FedWatch của CME, các nhà giao dịch hiện chỉ dự báo khoảng 38% khả năng Fed tăng lãi suất trong tháng 10, giảm từ hơn 50% chỉ một ngày trước đó. Khả năng tăng lãi suất giảm thêm sau khi Chủ tịch Fed New York John Williams cho rằng không có sự cấp bách đối với những hành động tiếp theo.

Trên Phố Wall, Nasdaq tăng hơn 1% trong phiên 30/9. Tại thời điểm 11h49 sáng theo giờ ET, Dow Jones giảm 29,41 điểm, tương đương 0,06%, xuống 51.320,51 điểm; S&P 500 tăng 44,99 điểm, tương đương 0,59%, lên 7.715,83 điểm; Nasdaq Composite tăng 285,41 điểm, tương đương 1,07%, lên 27.082,95 điểm.

USD duy trì ở mức cao, đồng euro và bảng Anh chịu sức ép

Đồng USD bước vào tháng 10 ở gần mức cao nhất trong gần hai tháng, được hỗ trợ bởi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng. Chỉ số USD ở mức 101,48 sau khi tăng khoảng 2% trong tháng 9. Đồng euro giảm nhẹ xuống 1,1330 USD trong đầu phiên châu Á, sau khi giảm gần 2,5% trong tháng trước, mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 7/2025. Đồng bảng Anh giữ ở 1,3264 USD sau khi giảm 2,1% trong tháng 9.

Đồng yên giảm 0,2% xuống 157,82 yên/USD, dù đã tăng gần 1,5% trong tháng 9. Một số nhà hoạch định chính sách của Ngân hàng Nhật Bản cho rằng cần đẩy nhanh tốc độ tăng lãi suất hoặc đưa lãi suất tiến gần hơn tới mục tiêu trong thời gian sớm nhất. Trong khi đó, AUD giảm xuống mức thấp nhất hai tháng là 0,6940 USD sau khi lạm phát trong nước thấp hơn một chút so với dự báo, còn NZD giảm xuống gần mức thấp nhất kể từ tháng 11/2025, ở 0,5636 USD.

Giá dầu có xu hướng giảm và liên tục biến động

Giá dầu gần như đi ngang và có xu hướng giảm xuống trong phiên đầu ngày 1/10 khi nhà đầu tư đánh giá triển vọng đàm phán hòa bình Mỹ - Iran và khả năng phục hồi xuất khẩu dầu thô từ Trung Đông. Đầu phiên 1/10, dầu Brent giao tháng gần nhất tăng 12 cent, tương đương 0,1%, lên 98,15 USD/thùng, trong khi dầu WTI giảm 7 cent, tương đương 0,1%, xuống 90,35 USD/thùng. Giá sau đó lại có lực kéo giảm.

giadau.jpg
Giá dầu xuống sâu giữa phiên 30/9 và hồi mạnh vào cuối phiên, có xu hướng đi xuống khi sang phiên 1/10
giadau2.jpg
Xu hướng của dầu WTI cũng tương tự Brent

Cả hai loại dầu chuẩn đều tăng khoảng 4 USD/thùng cuối phiên 30/9 sau khi giảm sâu giữa phiên. Giá giảm trở lại khi sang phiên 1/10. Tính chung tháng 9, Brent tăng khoảng 14%, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 7 và là tháng tăng thứ ba liên tiếp, trong khi WTI tăng khoảng 5%. 

Ả Rập Xê Út đã nối lại hoạt động bốc dỡ dầu tại Yanbu sau khi khôi phục đường ống Đông - Tây. Goldman Sachs ước tính xuất khẩu dầu mỏ vùng Vịnh, bao gồm cả lượng dầu xuất khẩu “ngầm” từ các tàu không bật thiết bị định vị, đã phục hồi lên 23,3 triệu thùng/ngày trong tuần qua, tương đương mức trung bình năm 2025. Xuất khẩu đã tăng gấp đôi trong tháng 9. Trong khi đó, hai nguồn tin cho biết OPEC+ nhiều khả năng sẽ giữ nguyên mục tiêu sản lượng dầu trong tháng 11 khi nhóm họp vào Chủ nhật.

Ở Mỹ, tồn kho dầu thô tăng 922.000 thùng trong tuần kết thúc ngày 25/9 lên 427,3 triệu thùng, trái với dự báo giảm 264.000 thùng của các nhà phân tích được Reuters khảo sát. Tuy nhiên, tồn kho nhiên liệu giảm mạnh do nhu cầu theo mùa và nhu cầu toàn cầu tăng cao.

Vàng bước vào tháng 10 ở vùng 4.160 USD/ounce

Giá vàng thế giới sáng 1/10 giao dịch quanh 4.160 USD/ounce sau khi giảm khoảng 6% trong tháng 9. Vàng giao ngay ở khoảng 4.161 USD/ounce, tăng nhẹ 0,1%, với biên độ trong ngày khoảng 4.139-4.162 USD/ounce. Dữ liệu đầu phiên châu Á của WSJ ghi nhận vàng giao ngay ở 4.161,67 USD/ounce, tăng 0,05%, trong khi hợp đồng vàng tương lai Mỹ ở khoảng 4.183 USD/ounce.

giavang.jpg
Giá vàng tăng cuối phiên 30/9 nhưng giảm mạnh trở lại khi sang phiên 1/10

Vàng chịu sức ép trong tháng 9 khi lợi suất trái phiếu Mỹ và giá năng lượng tăng cao. Dù chỉ số PCE tháng 8 tăng 0,3%, thấp hơn mức dự báo 0,4%, qua đó làm giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất ngay trong tháng 10, tác động tích cực đối với vàng vẫn bị hạn chế bởi lợi suất trái phiếu Mỹ cao và USD tương đối mạnh. Chỉ số USD đầu phiên 1/10 ở khoảng 101,48.

Trước đó, vàng từng giảm xuống khoảng 4.111 USD/ounce ngày 28/9, mức thấp nhất kể từ đầu tháng 8, khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm lên mức cao nhất kể từ tháng 6/2007. Diễn biến này khiến vùng 4.100-4.150 USD/ounce trở thành vùng hỗ trợ đáng chú ý trong ngắn hạn, trong khi khả năng vàng trở lại vùng 4.200 USD/ounce sẽ phụ thuộc đáng kể vào diễn biến lợi suất trái phiếu Mỹ, USD và kỳ vọng chính sách lãi suất của Fed.

Kim loại quý phân hóa, kim loại công nghiệp chịu áp lực

Cuối phiên 30/9, bạc giao ngay giảm khoảng 0,8% xuống 60,98 USD/ounce, bạch kim tăng 0,5% lên 1.714,71 USD/ounce và palladium giảm 0,2% xuống 1.220,98 USD/ounce. Theo mức giá hiệu lực ngày 1/10 của Ngân hàng Trung ương Nga, bạc ở 163,51 rúp/gram, bạch kim 4.540,82 rúp/gram và palladium 3.273,74 rúp/gram, cả ba đều giảm so với ngày 30/9.

Ở nhóm kim loại công nghiệp, đồng LME cuối phiên 30/9 ở 14.416,50 USD/tấn, giảm 0,1%, nhưng vẫn hướng tới tháng tăng thứ ba liên tiếp và quý III tăng khoảng 7,9%. Nhôm giảm 1,7% xuống 3.160 USD/tấn, mức thấp nhất kể từ ngày 29/7; kẽm giảm 1,3% xuống 3.818,50 USD/tấn; thiếc giảm 0,1% xuống 53.870 USD/tấn; chì giảm 1,2% xuống 1.874,50 USD/tấn, thấp nhất kể từ ngày 14/9. Niken là kim loại duy nhất trong nhóm tăng, tăng nhẹ 0,1% lên 15.970 USD/tấn.

Đáng chú ý, đồng từng tăng lên 14.506 USD/tấn, tăng 0,47% trong đầu phiên 30/9 nhờ hoạt động sản xuất của Trung Quốc trở lại vùng tăng trưởng. PMI sản xuất chính thức của Trung Quốc tháng 9 tăng lên 50,1 từ 49,8 trong tháng 8, trong khi tồn kho đồng tại các kho thuộc Sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 17,8% xuống 38.744 tấn, thấp nhất kể từ tháng 1/2024. Điều này giúp đồng có diễn biến tương đối tích cực hơn so với nhiều kim loại công nghiệp khác.

Cao su bật tăng mạnh

Thị trường cao su kỳ hạn Nhật Bản phục hồi mạnh trong phiên 30/9, được hỗ trợ bởi giá cao su thực tế tăng tại Thái Lan sau khi lũ lụt làm gián đoạn hoạt động khai thác mủ tại các khu vực sản xuất. Giá dầu tăng cũng góp phần hỗ trợ cao su tự nhiên khi mặt hàng này cạnh tranh với cao su tổng hợp có nguồn gốc từ dầu thô.

Hợp đồng cao su giao tháng 3 trên OSE tăng 8,8 yên, tương đương 1,98%, lên 452,9 yên, tương đương 2,89 USD/kg. Hợp đồng giao tháng 1 trên SHFE tăng 1.055 nhân dân tệ, tương đương 5,54%, lên 20.095 nhân dân tệ, tương đương 2.997,51 USD/tấn, sau khi có thời điểm chạm mức cao nhất kể từ ngày 20/2/2017. Hợp đồng cao su butadien tháng 11 tăng 610 nhân dân tệ, tương đương 3,96%, lên 16.000 nhân dân tệ/tấn.

Cơ quan khí tượng Thái Lan cảnh báo mưa dông lớn trong ngày 4-5/10 có thể tiếp tục làm gián đoạn hoạt động khai thác mủ. Mưa lớn và lũ lụt đã ảnh hưởng tới 42 tỉnh trên toàn Thái Lan kể từ ngày 16/9, khiến ít nhất 23 người thiệt mạng. Trong khi đó, tồn kho cao su tự nhiên tại Thanh Đảo tính đến ngày 27/9 đạt 575.200 tấn, giảm 1,73% so với tuần trước. Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 12 trên SICOM được giao dịch lần cuối ở 256,3 cent Mỹ/kg, tăng 4,7% tính đến 07h07 GMT.

Xuất khẩu ngô Ukraine tăng gây áp lực lên lúa mì

Thị trường ngũ cốc tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi những hạn chế logistics. Liên đoàn nông dân UAC của Ukraine nhận định xuất khẩu lúa mì nước này có thể giảm trong tháng 10 và tháng 11 khi lượng ngô mới thu hoạch được đưa ra thị trường với quy mô lớn, chiếm một phần đáng kể năng lực logistics vốn đang hạn chế. Trong tháng 9, Ukraine đã xuất khẩu khoảng 950.000 tấn lúa mì, nhưng mới có khoảng 600.000 tấn được ký hợp đồng xuất khẩu cho tháng 10. Trong khi đó, lượng ngô đã ký hợp đồng xuất khẩu tháng 10 lên tới 850.000 tấn, so với chỉ 282.000 tấn được xuất khẩu trong tháng 9.

Các cảng biển Ukraine, trước đây đảm nhiệm khoảng 90% lượng xuất khẩu ngũ cốc của nước này, đã bị phong tỏa hiệu quả từ cuối tháng 7 do các cuộc tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái. Hoạt động xuất khẩu được chuyển hướng sang các cảng sông Danube có công suất thấp hơn và các cửa khẩu đường bộ với Đông Âu.

Đầu phiên 1/10, ngô kỳ hạn tháng 12 ở 524,13 cent/bushel, tăng 0,41%; đậu tương tháng 11 ở 1.299,75 cent/bushel, tăng 0,13%; lúa mì Chicago tháng 12 ở 693,10 cent/bushel, tăng 0,01%. Trước đó, lúa mì tháng 12 trên Euronext Paris đóng cửa 30/9 ở 236 euro/tấn, giảm 0,1%, trong khi lúa mì Chicago giảm hơn 2% trong phiên 30/9 sau khi USDA công bố lượng tồn kho ngô Mỹ cao hơn dự kiến.

Đậu tương tiếp tục là mặt hàng đáng chú ý do quan hệ thương mại Mỹ - Trung. Trung Quốc đồng ý giảm thuế đối với nhiều nông sản Mỹ nhưng không đưa đậu tương vào danh sách, khiến đậu tương Mỹ tiếp tục chịu thuế 10%. Nhu cầu đậu tương của Trung Quốc cũng chịu sức ép do tồn kho cao, biên lợi nhuận ép dầu thấp và nhu cầu thức ăn chăn nuôi suy yếu.

Cà phê chịu sức ép nguồn cung, đường được hỗ trợ bởi thời tiết

Ở nhóm hàng mềm, cà phê Arabica ở khoảng 2,8845 USD/pound trong phiên 30/9, giảm 0,1%, trong khi Robusta London ở khoảng 3.370 USD/tấn, giảm 0,5%. Brazil đang hướng tới vụ thu hoạch cà phê kỷ lục trong năm 2026 và xuất khẩu tháng 9 được dự báo lập kỷ lục, tạo áp lực lên giá cà phê.

Đường thô New York ở khoảng 18,63 cent/pound, giảm 1,12% trong phiên 30/9. Tuy nhiên, triển vọng nguồn cung vẫn được theo dõi khi thời tiết mưa bất thường tại vùng trồng mía trung nam Brazil khiến các nhà máy ưu tiên sản xuất ethanol hơn đường. Sản lượng đường của khu vực này có thể thấp hơn đáng kể so với dự báo ban đầu 40 triệu tấn.

Ca cao ở khoảng 5.385,61 USD/tấn, giảm 0,41%. Nhu cầu chocolate yếu tiếp tục gây sức ép lên thị trường, trong khi triển vọng sản lượng tại Tây Phi vẫn là yếu tố quan trọng đối với giá ca cao.

Bông, gạo, dầu cọ và hạt cải dầu cùng giảm

Bông giao dịch quanh 78,76 cent/pound, giảm 0,13% trong phiên 30/9. Mặc dù vậy, giá bông vẫn cao hơn đáng kể so với đầu năm, trong bối cảnh thị trường tiếp tục theo dõi thời tiết và hiện tượng El Niño. Giá gạo ở khoảng 16,27 USD/cwt, giảm 0,93%. Dầu cọ kỳ hạn Malaysia ở 4.623 ringgit/tấn, giảm nhẹ 0,02%, trong khi hạt cải dầu ở khoảng 536,67 euro/tấn, giảm 1,39%.

Giá một số hàng hóa, ghi nhận sáng 1/10:

Bài liên quan

(0) Bình luận
Thị trường ngày 1/10: Dầu vẫn biến động mạnh, vàng chịu áp lực, cao su bật tăng mạnh
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO