Heo hơi giảm lan rộng, vùng 56.000 đồng/kg trở lại
Giá heo hơi tiếp tục là mặt hàng biến động đáng chú ý nhất trong phiên 29/9 khi xu hướng giảm xuất hiện tại cả ba miền. Giá thu mua trên cả nước hiện lùi về khoảng 56.000 - 59.000 đồng/kg.
Tại miền Bắc, có nhiều địa phương được khảo sát giảm 1.000 đồng/kg. Sau điều chỉnh, giá heo hơi trong khu vực dao động từ 57.000 - 59.000 đồng/kg.

Đà giảm cũng tiếp tục tại miền Trung - Tây Nguyên. Đáng chú ý, Huế và Quảng Ngãi xuống còn 56.000 đồng/kg, đưa vùng giá này trở lại thị trường sau thời gian vắng bóng. Lâm Đồng là địa phương duy nhất trong khu vực còn giữ mức 58.000 đồng/kg, các địa phương còn lại phổ biến 56.000 - 57.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, Đồng Tháp và Cà Mau cùng xuống 56.000 đồng/kg; Tây Ninh, An Giang và Cần Thơ giảm 1.000 đồng/kg về 57.000 đồng/kg. Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh giữ mức 58.000 đồng/kg, cao nhất khu vực.

Sau khi mốc 60.000 đồng/kg biến mất vào cuối tuần trước, mặt bằng giá tiếp tục dịch chuyển xuống thấp hơn. Việc mức 56.000 đồng/kg xuất hiện tại cả miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam cho thấy áp lực giảm đang lan rộng, dù mức điều chỉnh tại từng địa phương hiện chủ yếu vẫn ở 1.000 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu quay đầu tăng nhẹ
Trái chiều với thị trường heo hơi, một số loại gạo nguyên liệu xuất khẩu tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận mức tăng nhẹ.
Gạo nguyên liệu CL555 tăng 50 đồng/kg, lên 8.750 - 8.850 đồng/kg; IR504 cũng tăng 50 đồng/kg, đạt 8.700 - 8.800 đồng/kg. Các chủng loại còn lại tương đối ổn định, với OM5451 ở 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM18 ở 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, tấm thơm được giao dịch ở 8.900 - 9.000 đồng/kg, cám ở 7.500 - 7.700 đồng/kg. Thị trường bán lẻ nhìn chung đứng giá, gạo Nàng Nhen tiếp tục có mức cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài và gạo Nhật ở 22.000 đồng/kg; Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg; Đài Thơm 15.500 - 16.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam không thay đổi so với phiên trước. Gạo Jasmine được chào bán 514 - 518 USD/tấn, gạo thơm 100% tấm 372 - 376 USD/tấn và gạo thơm 5% tấm 440 - 445 USD/tấn.
Việc CL555 và IR504 cùng tăng 50 đồng/kg giúp thị trường gạo nguyên liệu khởi sắc nhẹ sau những phiên tương đối ổn định. Tuy nhiên, biên độ tăng còn nhỏ, giao dịch chậm và giá xuất khẩu chưa có biến động mới, do đó xu hướng tăng rõ rệt chưa hình thành.
Cao su thế giới tiếp tục phân hóa
Thị trường cao su châu Á ngày 29/9 diễn biến trái chiều giữa các sàn và kỳ hạn, song đà tăng vẫn nổi bật tại Trung Quốc.
Trên sàn TOCOM (Nhật Bản), hợp đồng RSS3 tháng 10 giảm 2,58% xuống 453 Yên/kg, trong khi hợp đồng tháng 11 tăng 2,22% lên 465 Yên/kg.
Tại Trung Quốc, giá cao su tự nhiên trên SHFE tiếp tục tăng. Hợp đồng tháng 10 đạt 18.740 Nhân dân tệ/tấn, tăng 1,76%; hợp đồng tháng 11 tăng 2,32% lên 18.780 Nhân dân tệ/tấn. Tại Thái Lan, RSS3 xuất khẩu tăng 0,32%, lên 94,90 Baht/kg.
Trên SGX, TSR20 tháng 10 giảm 0,31% xuống 253,20 Cent/kg, trong khi hợp đồng tháng 11 tăng 0,76%, đạt 252 Cent/kg.
Giá thu mua cao su trong nước chưa phản ứng đáng kể với biến động quốc tế. Mủ nước tại Phú Riềng và Cao su Bà Rịa tiếp tục ở mức 420 đồng/TSC; mủ tạp DRC 60% tại Bình Long giữ mức 18.000 đồng/kg.

Sắc xanh trên SHFE và thị trường Thái Lan tiếp tục tạo lực đỡ, nhưng diễn biến trái chiều tại TOCOM và SGX cho thấy đà tăng chưa đồng thuận. Những phiên tới, thị trường có thể tiếp tục phân hóa giữa các kỳ hạn thay vì hình thành một xu hướng tăng đồng loạt.
Giá tiêu giữ ổn định
Sau nhịp giảm trong tuần trước, thị trường hồ tiêu trong nước bước vào trạng thái ổn định. Giá thu mua tại các vùng trọng điểm ngày 29/9 tiếp tục dao động 136.000 - 140.000 đồng/kg.
Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) giữ mức cao nhất 140.000 đồng/kg; Đắk Lắk đạt 138.000 đồng/kg; Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) ở mức 136.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng giữ mức 136.000 đồng/kg.
Thị trường quốc tế cũng ít biến động. Tiêu đen Indonesia đứng ở 6.828 USD/tấn, Brazil 5.850 USD/tấn và Malaysia 9.250 USD/tấn. Tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l lần lượt ở 5.970 USD/tấn và 6.075 USD/tấn; tiêu trắng Việt Nam giữ mức 8.450 USD/tấn.
Giá tiêu đang tạm thời cân bằng sau đợt điều chỉnh cuối tuần trước. Khi cả thị trường nội địa và xuất khẩu chưa xuất hiện động lực mới, khả năng cao giá sẽ tiếp tục giằng co quanh vùng hiện tại trong những phiên tới.
