Giá tiêu đồng loạt giảm
Sau nhiều phiên ổn định, thị trường hồ tiêu trong nước ngày 8/10 xuất hiện nhịp điều chỉnh khá rõ khi giá tại toàn bộ khu vực khảo sát giảm từ 1.000 - 1.500 đồng/kg. Mặt bằng giá theo đó lùi về 135.500 - 139.000 đồng/kg, không còn địa phương nào giữ được mốc 140.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu nhìn chung ổn định. Tiêu đen Malaysia ở mức 9.200 USD/tấn, Indonesia 6.828 USD/tấn và Brazil 5.800 USD/tấn. Tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l lần lượt duy trì ở 5.970 USD/tấn và 6.075 USD/tấn.
Sau chuỗi phiên đi ngang, mức giảm đồng loạt cho thấy áp lực điều chỉnh đã rõ hơn trên thị trường nội địa. Tuy nhiên, giá xuất khẩu chưa biến động đáng kể nên diễn biến những phiên tới nhiều khả năng phụ thuộc chủ yếu vào lực mua trong nước và tâm lý giữ hàng của người bán.
Heo hơi tiếp tục giảm
Giá heo hơi tiếp tục đi xuống tại nhiều địa phương, đưa phạm vi giao dịch trên cả nước xuống 53.000 - 55.000 đồng/kg. Mốc 56.000 đồng/kg đã biến mất, trong khi mức 53.000 đồng/kg bắt đầu xuất hiện tại cả ba miền.
Tại miền Bắc, giá dao động 53.000 - 55.000 đồng/kg. Lai Châu giảm 2.000 đồng/kg xuống 53.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực. Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Điện Biên và Hưng Yên giữ mức 55.000 đồng/kg; các địa phương còn lại chủ yếu ở 54.000 đồng/kg.

Miền Trung - Tây Nguyên cũng giảm tại phần lớn địa phương, giao dịch 53.000 - 55.000 đồng/kg. Lâm Đồng cao nhất với 55.000 đồng/kg, trong khi Huế, Đà Nẵng và Khánh Hòa xuống 53.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh giảm còn 55.000 đồng/kg, ngang Vĩnh Long và Cần Thơ. Cà Mau xuống 54.000 đồng/kg; Đồng Tháp tiếp tục thấp nhất khu vực với 53.000 đồng/kg.

Việc giá heo hơi giảm đồng thời tại cả ba miền và mốc 56.000 đồng/kg biến mất cho thấy thị trường vẫn chịu áp lực đáng kể. Nếu sức mua chưa cải thiện, giá heo hơi có thể tiếp tục dao động quanh vùng thấp 53.000 - 55.000 đồng/kg trong những phiên tới.
Giá gạo biến động nhẹ
Thị trường gạo Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận biến động trái chiều. Gạo nguyên liệu xuất khẩu CL555 giảm 50 đồng/kg, còn 8.700 - 8.750 đồng/kg; IR504 ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg.
Các chủng loại khác nhìn chung ổn định: OM5451 ở 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM18 ở 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM380 và Sóc thơm cùng ở 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Ở thị trường bán lẻ, gạo Đài thơm tăng 500 đồng/kg lên 15.500 - 16.500 đồng/kg. Gạo Jasmine ở 16.500 - 17.500 đồng/kg, Nàng Nhen 28.000 đồng/kg và Hương Lài 22.000 đồng/kg.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam đứng giá. Gạo thơm 100% tấm ở 371 - 375 USD/tấn, Jasmine 515 - 519 USD/tấn và gạo thơm 5% tấm 440 - 445 USD/tấn.
Thị trường gạo đang phân hóa giữa từng phân khúc, nhưng biên độ điều chỉnh của gạo nguyên liệu còn nhỏ. Giá xuất khẩu giữ ổn định là yếu tố hỗ trợ, trong khi giao dịch nội địa vẫn cần thêm lực mua để hình thành xu hướng rõ ràng hơn.
Cao su thế giới tiếp tục phân hóa

Giá cao su thế giới 8/10 chưa hình thành xu hướng đồng nhất. Trên sàn TOCOM, hợp đồng tháng 10 giảm 0,64% xuống 438,20 Yên/kg, kỳ hạn tháng 11 đi ngang ở 443,80 Yên/kg, trong khi tháng 12 tăng 0,67% lên 446 Yên/kg.
Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su FOB Laem Chabang tăng 0,8% lên 96,72 Baht/kg. Trên SGX, hợp đồng TSR20 tháng 11 đứng ở 260,40 Cent/kg; tháng 12 giảm nhẹ 0,08% còn 259,20 Cent/kg, trong khi tháng 1/2027 nhích 0,04% lên 258,30 Cent/kg.
Trong nước, giá thu mua tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục ổn định. Phú Riềng thu mua mủ nước 420 đồng/TSC; Bình Long ở mức 540 đồng/độ TSC/kg tại nhà máy; MangYang khoảng 458 - 463 đồng/TSC đối với mủ nước.
Cao su vẫn có lực đỡ từ những lo ngại về nguồn cung dài hạn và nhu cầu của ngành ô tô, lốp xe. Tuy nhiên, diễn biến trái chiều giữa các kỳ hạn cho thấy thị trường chưa xác lập được xu hướng tăng mới một cách rõ ràng.
