Thị trường hàng hóa ngày 3/10: Heo hơi giảm sâu, cao su tiếp đà tăng

Thu Trang | 09:13 03/10/2026

Giá heo hơi giảm tại cả ba miền, vùng 55.000 đồng/kg ngày càng mở rộng. Trái chiều, cao su thế giới duy trì đà tăng với SHFE tăng gần 4%.


Thị trường hàng hóa ngày 3/10: Heo hơi giảm sâu, cao su tiếp đà tăng

Heo hơi giảm về 55.000 đồng/kg

Giá heo hơi tiếp tục nối dài chuỗi giảm trong phiên 3/10, với nhiều địa phương điều chỉnh thêm 1.000 đồng/kg. Mặt bằng thu mua trên cả nước hiện chỉ còn 55.000 - 57.000 đồng/kg, đáng chú ý mức 55.000 đồng/kg đã xuất hiện tại cả ba miền.

Tại miền Bắc, Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Ninh Bình, Lào Cai, Điện Biên, Sơn La và Hưng Yên cùng giảm 1.000 đồng/kg. 

anh-man-hinh-2026-10-03-luc-08.30.56.png
Giá heo hơi miền Bắc ngày 3/10/2026

Miền Trung - Tây Nguyên ghi nhận Thanh Hóa và Nghệ An giảm 1.000 đồng/kg. Lâm Đồng tiếp tục giữ mức cao nhất khu vực 57.000 đồng/kg.

anh-man-hinh-2026-10-03-luc-08.30.43.png
Giá heo hơi miền Trung - Tây Nguyên ngày 3/10/2026

Áp lực giảm cũng lan rộng tại miền Nam khi Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau và TP. Hồ Chí Minh cùng giảm 1.000 đồng/kg. Đồng Nai là địa phương duy nhất trong khu vực còn giữ mức 57.000 đồng/kg.

anh-man-hinh-2026-10-03-luc-08.30.23.png
Giá heo hơi miền Nam ngày 3/10/2026

So với ngày 28/9, khi mức cao nhất trên thị trường vẫn đạt 59.000 đồng/kg, vùng giá phổ biến hiện đã dịch chuyển xuống 55.000 - 57.000 đồng/kg.

Giá heo hơi vẫn chưa cho thấy tín hiệu phục hồi rõ ràng khi vùng 55.000 đồng/kg đã lan ra cả ba miền. Việc các mốc giá cao liên tục bị phá vỡ cho thấy áp lực điều chỉnh vẫn hiện hữu trong những phiên đầu tháng 10.

Cao su thế giới tiếp đà tăng

f6cef917-aa60-4c20-89d6-f15f1200271c.png

Thị trường cao su thế giới tiếp tục ghi nhận sắc xanh, trong đó các hợp đồng trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) tăng mạnh nhất.

Tại SHFE, hợp đồng cao su tự nhiên tháng 10 tăng 3,80%, lên 19.000 Nhân dân tệ/tấn; hợp đồng tháng 11 tăng 3,78%, đạt 18.955 Nhân dân tệ/tấn.

Trên SGX, hợp đồng TSR20 tháng 10 và tháng 11 cùng tăng 0,16%, lần lượt đạt 255,20 cent/kg và 254,80 cent/kg.

Diễn biến tại Nhật Bản phân hóa hơn. Hợp đồng RSS3 tháng 10 trên TOCOM giảm 0,20%, xuống 444,10 Yên/kg, trong khi kỳ hạn tháng 11 tăng 2,89%, đạt 445,60 Yên/kg. Giá chào xuất khẩu RSS3 của Thái Lan giữ nguyên ở 94,76 Baht/kg.

Trong nước, giá thu mua tại các doanh nghiệp lớn chưa thay đổi. 

Đà tăng của cao su quốc tế tiếp tục được duy trì nhưng mức độ chưa đồng đều giữa các sàn. SHFE vẫn là điểm sáng với mức tăng gần 4%, trong khi SGX chỉ nhích nhẹ và một kỳ hạn tại TOCOM giảm giá, cho thấy thị trường vẫn có sự phân hóa.

Giá tiêu tiếp tục đi ngang

Sau nhịp tăng đồng loạt 500 đồng/kg trong phiên đầu tháng, giá hồ tiêu trong nước bước sang phiên đi ngang thứ hai liên tiếp, duy trì trong khoảng 136.500 - 140.500 đồng/kg.

anh-man-hinh-2026-10-02-luc-08.05.12.png
Giá hồ tiêu trong nước ngày 3/10/2026

Thị trường thế giới cũng chưa xuất hiện biến động đáng kể. Tiêu đen Indonesia được giao dịch quanh 6.828 USD/tấn, Brazil 5.850 USD/tấn và Malaysia 9.250 USD/tấn. Tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l ở mức 5.970 USD/tấn, loại 550 g/l đạt 6.075 USD/tấn; tiêu trắng Việt Nam giữ mức 8.450 USD/tấn.

Việc giá giữ ổn định sau phiên tăng đầu tháng cho thấy thị trường đang tích lũy quanh mặt bằng mới. Khoảng cách giữa vùng cao nhất và thấp nhất duy trì 4.000 đồng/kg, trong khi giá thế giới chưa tạo thêm động lực đáng kể cho thị trường nội địa.

Giá gạo ít biến động

Giá gạo nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục ổn định. Gạo CL555 dao động 8.750 - 8.850 đồng/kg; IR504 ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; OM5451 đạt 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM18 từ 8.700 - 8.850 đồng/kg.

Gạo Đài Thơm 8 tiếp tục ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg, trong khi OM380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg. Với phụ phẩm, tấm thơm ở mức 8.900 - 9.050 đồng/kg, cám từ 7.500 - 7.700 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, gạo thơm 100% tấm của Việt Nam được chào ở 371 - 375 USD/tấn; Jasmine 515 - 519 USD/tấn và gạo thơm 5% tấm 440 - 445 USD/tấn.

Trong khi giá gạo Việt Nam tương đối ổn định, một số nguồn cung cạnh tranh giảm mạnh. Gạo trắng 5% tấm Thái Lan giảm 4 USD/tấn xuống 455 - 459 USD/tấn; cùng loại của Pakistan giảm 13 USD/tấn, còn 409 - 413 USD/tấn.

Giá gạo nguyên liệu trong nước vẫn duy trì mặt bằng ổn định, nhưng thị trường xuất khẩu xuất hiện sự phân hóa giữa các quốc gia. Diễn biến giá từ Thái Lan, Pakistan cùng nhu cầu nhập khẩu trong quý IV sẽ là những yếu tố đáng chú ý đối với gạo Việt Nam.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Thị trường hàng hóa ngày 3/10: Heo hơi giảm sâu, cao su tiếp đà tăng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO