Chuyên gia sâm Việt Nam Phạm Ngọc Dương: Sâm Việt Nam đang là “Quốc bảo ngủ quên”, tương lai sẽ mở ra cơ hội đổi đời cho người nông dân vùng cao
Thanh Lam |14:38 21/04/2026
Trong nhiều năm qua, không ít hội thảo, đề án và chính sách đã được đưa ra nhằm phát triển cây Sâm Việt Nam thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Thế nhưng, thực tế lại cho thấy một nghịch lý: Sâm vẫn hiếm, giá vẫn “trên trời” và thị trường gần như chưa hình thành đúng nghĩa. Khi nguồn nguyên liệu chưa đủ, sản phẩm chế biến còn ít ỏi thì giấc mơ về một ngành công nghiệp sâm vẫn còn rất xa vời.
Một vườn Sâm được trồng dưới tán cây rừng ở Lai Châu.
Markettimes đã có cuộc trao đổi với chuyên gia Sâm Việt Nam Phạm Ngọc Dương về tương lai của thương hiệu Sâm Việt Nam, nếu được khai thác đúng hướng, cây sâm hoàn toàn có thể trở thành “đòn bẩy” giúp người dân vùng núi thoát nghèo và vươn lên làm giàu bền vững.
Ông Phạm Ngọc Dương từng là một nhà báo chuyên viết và nghiên cứu dược liệu Việt Nam. Sau khi bén duyên với cây Sâm tại vùng đất Lai Châu ông chuyển sang đầu tư ươm trồng, nhân giống và đưa ra thị trường dòng Sâm Lai Châu.
Từ một người viết, nghiên cứu rồi chuyển sang trồng trực tiếp cây Sâm Lai Châu, ông thấy giống cây này có cơ hội nhân giống lên thành cây trồng đại trà được không?
Thú thực là tôi chưa thấy trồng cây gì nó khó như cây Sâm. Đến nay, tôi trồng đã được 7 năm, nhưng vẫn là con số 0 tròn trĩnh, khi chưa có lợi nhuận gì. Cứ kiếm được đồng nào từ cây sâm thì lại đốt hết vào những vườn sâm và đổi lấy bài học. Thế nhưng, không làm thì thành công sao được.
Cũng may mà trả giá quá nhiều, thất bại nhiều, rút ra bài học nhiều mà có thực tế nhiều. Từ thực tế của bản thân, kết hợp với chuyên môn và khoa học của các chuyên gia nên tôi đã xây dựng được công thức chuẩn để phát triển sâm với quy mô công nghiệp.
Tất nhiên, đây chỉ là bước đầu, nhưng tôi nghĩ tương lai là sáng sủa nếu đầu tư đến nơi đến chốn. Việt Nam đã có được một vài chuyên gia thực sự trong lĩnh vực trồng sâm rồi.
Ông Phạm Ngọc Dương trong vườn sâm của mình.
Theo ý ông là cây này rất khó trồng, vậy không có cơ hội cho người dân Việt Nam được tiếp cận Sâm giá rẻ như Hàn Quốc đã làm được?
Khó những không có nghĩa là không làm được. Thực tế trên các dãy núi cao vùng Tây Bắc sâm này mọc hoang nhiều. Tôi từng lẽo dãy Pu Si Lung và phát hiện loài sâm quý này. Tôi đi rừng với nhiều người La Hủ ở Pa Vệ Sử (Mường Tè) tìm sâm và đây cũng là nơi sâm có rất nhiều trong tự nhiên. Tôi cùng đồng bào La Hủ làm vườn, gieo hạt ở độ cao 2.000m cực kỳ giá lạnh. Đây cũng là nơi có dự án trồng cây tam thất hoang (thực tế là sâm Lai Châu) từ năm 2012 nên bà con La Hủ cũng được các nhà khoa học của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn tỉ mỉ.
Hiện nay bà con chủ yếu vẫn trồng tự phát trong rừng chứ cũng không có nguồn lực làm quy mô. Bản thân tôi cũng thuê đất rừng sản xuất của bà con, cấp giống, vốn cùng kỹ thuật để trồng trên Pu Si Lung, tuy nhiên rất khó và chưa thành công. Chủ yếu mới chỉ thành công ở việc nhân giống. Hiện giờ thì tôi quay lại phương pháp trồng tự nhiên như bà con La Hủ, là khoanh một khu rừng rồi trồng tự nhiên trong rừng. Lạ ở chỗ, khi gieo hạt tự nhiên thì cây sâm lên khá tốt, khỏe, ít bệnh.
Từ bài học ở Pu Si Lung, thì tôi nhận thấy không thể phát triển quy mô công nghiệp khi trồng trong rừng và đi xa như vậy, nên cùng anh em Công ty Dược phẩm Thái Minh phát triển một vườn sâm rất lớn ở Sìn Hồ. Cho đến nay, đây là vườn sâm quy mô và bài bản thật sự, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất vào canh tác.
Tôi cũng đã di thực cây sâm về Lào Cai, cụ thể là Bắc Hà. Tôi chọn Bắc Hà vì ở đây bà con đang trồng tam thất và nó lên tốt. Tam thất cũng giống sâm thôi. Thú vị là ở độ cao 1.000m cây sâm lên rất tốt.
Sau đó tôi tiếp tục di thực cây Sâm về Vân Hồ, Sơn La. Ở đây dù mới thử nghiệm được 3 năm nhưng tôi tin chắc ở độ cao 1.200m của Vân Hồ cây sâm lên tốt. Phải vài năm nữa mới đánh giá được hiệu quả, nhưng nếu Vân Hồ và Mộc Châu mà thành công thì nơi đây thực sự là thiên thời địa lợi cho cây sâm phát triển quy mô lớn.
Ngoài ra, tôi còn phát triển một vườn sâm quy mô hơn 1ha để thử nghiệm ở Tà Xùa, nơi có ruộng bậc thang cũng nhiều, có thể trồng sâm dưới ruộng được, có điều nông nghiệp ở đây chưa phát triển, nên cái gì cũng thiếu và khó làm quy mô lớn. Nếu có làm thì cũng đắt đỏ, tốn kém, nên chưa phải phương án tối ưu.
Thử nghiệm nhiều nơi như vậy có phải ông đang tính tới xây dựng được vùng trồng Sâm quy mô lớn, mang tính công nghiệp?
Đúng là như vậy! Muốn có một ngành công nghiệp sâm thì phải có nguồn nguyên liệu lớn, trồng được sâm giá rẻ. Muốn phát triển quy mô công nghiệp được thì phải có được vùng trồng đủ lớn, có quy trình trồng sâm chuẩn mực. Khi khoanh được vùng trồng, các nhà khoa học đưa ra được quy trình chuẩn, thì doanh nghiệp cứ thế áp dụng và đầu tư, người dân cũng cứ theo quy trình mà trồng thì mới có kết quả.
Thực tế hiện nay người dân vào rừng trồng không hiệu quả vì đặc tính cây Sâm rất khó trồng, không chống trọi tốt với sâu bệnh... Còn doanh nghiệp mới trồng theo kiểu kinh nghiệm thực tế, vừa làm vừa học, trả giá quanh năm, đến khi sắp thu hoạch sâm chết hàng loạt, là nản, bỏ hết.
Cứ loay hoay với thất bại, trồng thì nhiều mà thành phẩm không thấy đâu, thì giá sâm vẫn sẽ trên giời, người dân khó tiếp cận, thì không bao giờ có được ngành công nghiệp sâm, cây sâm không bao giờ ra thế giới được.
Việc tôi đưa cây sâm ra nhiều nơi, di thực đến những vùng đất chuyên canh nông nghiệp, chủ yếu là để kiểm nghiệm. Nếu thành công thì trước hết bản thân tôi sẽ thu lợi, sau đó sẽ giúp nông dân cùng làm giàu và vô tình tạo ra vùng trồng lớn mà có nguyên liệu nhiều cho chế biến.
Đó là sâm Lai Châu, tôi thấy cây sâm Ngọc Linh được công bố là trồng nhiều rồi, thậm chí đến tập đoàn công nghiệp như Trường Hải cũng tuyên bố nhảy vào trồng sâm Ngọc Linh theo hướng công nghiệp.
Trong núi Ngọc Linh, gồm 2 tỉnh Đà Nẵng và Quảng Ngãi đã quy hoạch cả chục ngàn ha trồng sâm, tuy nhiên, số lượng cây sâm mà gom vào theo kiểu hàng, luống, thì theo tôi chắc đươc vài chục ha, một con số chả ra đâu vào đâu.
Cho nên, diện tích trồng sâm theo công bố và quy hoạch nghe thì lớn, nhưng thực tế thì quá thấp. Chính vì vậy, giá sâm mới ở trên giời, tới cả trăm triệu 1kg. Với giá này, thì làm sao mà có ngành công nghiệp sâm được.
Muốn có ngành công nghiệp sâm thì giá sâm phải về với giá trị thật, chỉ 1 đến 2 triệu đồng 1kg mà thôi.
Việc tập đoàn Trường Hải với tiềm lực kinh tế mạnh nếu đầu tư trông sâm tôi tin sẽ thành công và từ đó cây sâm sẽ trở thành cây công nghiệp mang lại thu nhập lớn cho người trồng.
Hy vọng đến thời điểm đó người có thu nhập trung bình ở Việt Nam cũng có thể mua được "Quốc Bảo" để dùng!.
Không cứ là sâm, cây gì tốt cho sức khỏe mà hiếm (do sản lượng thấp), lại nổi tiếng thì giá đều cao. Sâm Lai Châu giá 20 đến 30 triệu đồng 1kg đã là quá đắt rồi, nhưng sâm Ngọc Linh giá 100 đến 300 triệu 1kg, thì thực tế là quá cao, rất ít người Việt Nam có điều kiện được dùng.
Lý do sâm đắt là vì sản lượng thấp, nhưng vì sao sản lượng lại thấp, thì rõ ràng là vì khoa học kỹ thuật trong trồng sâm của ViệtNam chưa được đầu tư xứng tầm. Cây sâm Ngọc Linh được trồng 30 năm rồi, nhưng đến giờ vẫn chủ yếu trồng theo kiểu gieo trồng tự nhiên trong rừng. Đến nay chưa thực sự có một doanh nghiệp nào đầu tư bài bản, quy mô lớn, đủ tầm.
Với kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu ông thấy sâm Ngọc Linh và Sâm Lai Châu khác nhau điểm nào?. Thực tế phần lớn người tiêu dùng nhìn không nhận biết được.
Tôi đã khẳng định sâm ở Lai Châu và núi Ngọc Linh nó đều là một mà thôi. Nó chỉ khác nhau địa danh, tên gọi. Dãy núi Ngọc Linh kéo dài sang bên Lào, nên sâm khai thác bên Lào thường mang tên sâm Ngọc Linh và bán giá như sâm Ngọc Linh. Sâm Lai Châu cũng vậy, dãy Pu Si Lung kéo dài sang Trung Quốc, sang cả Lào, nên củ sâm nhổ ở đâu giá trị nó cũng như nhau, chứ không thể phân chia giá trị theo tên địa danh do con người đặt tên được.
Tôi đã trực tiếp đem sâm Ngọc Linh và Lai Châu, thậm chí sâm Trung Quốc đi kiểm nghiệm và kết quả cho thấy chẳng có gì khác biệt, khi hàm lượng các hoạt chất saponin chính như mr2, rg1, rb1, rd… đều tương đồng nhau. Thệm chí hàm lượng saponin mr2 trong sâm Lai Châu luôn cao đột biến, cao hơn cả sâm Ngọc Linh.
Còn xét nghiệm gene thì giống nhau đến 99%, tức là cái gene này nó khác một chút (1%) là do địa chất, khí hậu, chứ chẳng phải để phân biệt tốt hơn hay kém hơn.
Chính phủ đã thống nhất tên gọi chung là Sâm Việt Nam, như vậy thế giới sẽ biết đến Sâm Việt Nam. Vậy làm thế nào để có được ngành công nghiệp sâm và xuất khẩu được sâm nhưu Hàn Quốc?
Tên gọi là Sâm Việt Nam (tên khoa học là Panax vietnamensis)l là dành cho cả sâm Ngọc Linh, sâm Lai Châu và sâm ở vùng Vân Nam (Trung Quốc). Có điều, các doanh nghiệp ở mỗi vùng miền vẫn thích tên gọi riêng mang tính cục bộ địa phương. Việc này sẽ giữ giá trị củ sâm và bán trong nước. Còn khi ra quốc tế thì tên địa phương không còn ý nghĩa. Giống như sâm Hàn Quốc, sâm Trung Quốc, sâm Mỹ… sẽ gọi theo tên quốc gia. Chẳng nước nào họ gọi sâm Việt Nam theo tên một quả núi cả.
Tuy nhiên, theo tôi điều đó cũng không quan trọng. Cái quan trọng nhất vẫn là phát triển được vùng trồng quy mô lớn. Bây giờ các nhà khoa học phải vào cuộc, nhà nước cần đầu tư, để quy hoạch được vùng trồng đủ lớn. Không thể quy hoạch khu rừng nọ, cánh rừng kia, mà toàn rừng phòng hộ, vườn quốc gia, để cho ra con số diện tích lớn, để rồi chẳng ai chui vào rừng mà trồng được.
Vùng trồng phải thuận tiện đường sá, phải đưa được máy móc cơ giới vào làm, phải xây dựng được nhà cửa, phải có chuỗi cung ứng vật liệu nông nghiệp lớn, người nông dân ở vùng trồng có nhiều kinh nghiệm làm nông thì mới thành công được.
Tôi nghĩ vùng Sơn La, Lào Cai (cụ thể là Sapa) là rất phù hợp, vì đây là vùng canh tác nông sản lâu năm, người dân quá giỏi làm nông rồi. Quỹ đất rộng lớn, đạt độ cao cho cây sâm. Mặc dù Lai Châu là vùng phát tích sâm nhiều, nhưng diện tích canh tác quy mô lớn gần như không có, người dân thưa thớt, ít kinh nghiệm làm nông, chuỗi cung ứng quá kém, nên khó làm lớn được.
Hiện nay củ sâm vẫn chưa có đủ để chế biến cho nên mấu chốt vẫn là phải tạo ra được sản lượng lớn. Khi có sản lượng lớn, sâm rẻ, các nhà máy đem vào chế biến, tạo thành hàng trăm loại sản phẩm khác nhau, từ thực phẩm, trà, bánh kẹo, viên uống bổ sung… như Hàn Quốc và Trung Quốc thì mới thành công được. Chỉ khi toàn dân Việt Nam sử dụng sâm, quan tâm đến sâm để bồi bổ, thì thương hiệu cây sâm Việt Nam mới lớn mạnh.
Xin cảm ơn ông!
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.
Sự bất ổn ở eo biển Hormuz khiến giá dầu duy trì trên mốc 100 USD/thùng, kéo theo áp lực lạm phát và làm suy yếu giá vàng. Trong khi đó, chứng khoán châu Á đảo chiều giảm từ đỉnh, đồng USD giữ vững đà tăng, còn cà phê bật tăng mạnh do lo ngại gián đoạn nguồn cung.
FPT đang giúp một tập đoàn sản xuất vật liệu hàng đầu thế giới cắt giảm tới 40% chi phí vận hành trong vòng ba năm. Đây là mục tiêu quan trọng của dự án chuyển đổi AI quy mô lớn mà đối tác đã “chọn mặt” công ty công nghệ Việt để “gửi vàng”, mang về cho FPT hàng chục triệu USD.
Trong bối cảnh các nhà sản xuất ô tô Trung Quốc như BYD và Tesla tiếp tục có những động thái cạnh tranh mạnh mẽ, hãng này đã phải đối mặt với những khó khăn đáng kể.
Những gián đoạn về chuỗi cung ứng và nhiên liệu do cuộc chiến tại Trung Đông đã giáng đòn nặng nề vào nhiều nhà máy tại Ấn Độ. Tuy nhiên, các nhà sản xuất sợi bông như Fiotex Cotspin lại đang tăng tốc sản xuất trước nhu cầu lớn chưa từng có từ các khách hàng Trung Quốc.
Năm 2026, Văn Phú (VPI) sẽ tập trung nguồn lực bán hàng, tiến độ thi công tại các dự án cốt lõi như Vlasta Premier – Phú Thuận, Vlasta – Thủy Nguyên, Vlasta Premier – Phú Hội... hoàn thành mục tiêu lợi nhuận sau thuế 720 tỉ đồng.
Dự án có tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 45.268 tỷ đồng (tương đương 1,757 tỷ USD). Theo kế hoạch, dự án sẽ được triển khai qua 3 giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2036.
Sáng 23/4, Bộ Tư pháp chính thức khai trương phiên bản mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và Hệ thống thông tin hỗ trợ tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật với sự đồng hành công nghệ của FPT. Các hệ thống được nâng cấp, xây dựng trên nền tảng công nghệ số hiện đại, công nghệ dữ liệu, ứng dụng AI mạnh mẽ, đánh dấu bước tiến mới trong công tác phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.