Gạo nguyên liệu nhích tăng, xuất khẩu tiếp tục điều chỉnh giảm
.png)
Thị trường gạo ngày 11/6 ghi nhận diễn biến trái chiều giữa thị trường nội địa và xuất khẩu. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá một số chủng loại gạo nguyên liệu tăng nhẹ nhờ nhu cầu thu mua cải thiện. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, gạo IR 504 tăng 50 đồng/kg lên 8.700 - 8.800 đồng/kg, trong khi gạo CL 555 tăng 100 đồng/kg, dao động 9.100 - 9.300 đồng/kg.
.png)
Các loại gạo chất lượng cao như OM 5451 và Đài Thơm 8 tiếp tục duy trì ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg và 9.150 - 9.450 đồng/kg. Tại các địa phương như Đồng Tháp, An Giang hay Cần Thơ, nguồn lúa Hè Thu bắt đầu xuất hiện nhiều hơn nhưng hoạt động mua bán vẫn diễn ra khá thận trọng.
Ở chiều xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục chịu áp lực giảm. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine được chào bán ở mức 509 - 513 USD/tấn, trong khi gạo thơm 5% tấm giảm 6 USD/tấn so với cuối tuần, xuống còn 490 - 495 USD/tấn. Gạo thơm 100% tấm giữ ở mức 343 - 347 USD/tấn.
Trên thị trường quốc tế, giá gạo của Thái Lan và Ấn Độ tăng nhẹ từ 1-2 USD/tấn, cho thấy áp lực giảm hiện chủ yếu đến từ nguồn cung trong nước đang gia tăng khi vụ Hè Thu bước vào giai đoạn thu hoạch. Trong ngắn hạn, thị trường xuất khẩu được dự báo tiếp tục đối mặt với sự cạnh tranh từ các nguồn cung giá thấp trong khu vực.
Cao su thế giới phân hóa, thị trường trong nước tiếp tục đi ngang
Giá cao su thế giới ngày 11/6 ghi nhận diễn biến phân hóa giữa các thị trường chủ chốt. Trong khi giá tại Nhật Bản và Singapore nhích tăng, thị trường Trung Quốc và Thái Lan lại chịu áp lực điều chỉnh. Ở trong nước, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục duy trì ổn định.
|
Thị trường |
Mặt hàng |
Giá hiện tại |
Biến động |
|
Trung Quốc (SHFE) |
Cao su kỳ hạn |
17.510 Nhân dân tệ/tấn |
▼ 0,03% |
|
Trung Quốc (SHFE) |
Cao su kỳ hạn T9 |
17.590 Nhân dân tệ/tấn |
▼ 0,06% |
|
Trung Quốc (SHFE) |
Cao su butadien T7 |
13.185 Nhân dân tệ/tấn |
▼ 3,79% |
|
Nhật Bản (JPX) |
Cao su kỳ hạn |
411,8 Yên/kg |
▲ 0,19% |
|
Nhật Bản (OSE) |
Cao su giao T11 |
424 Yên/kg (2,65 USD/kg) |
▼ 0,16% |
|
Singapore (SICOM) |
Cao su giao T7 |
225,8 US cent/kg |
▲ 0,3% |
|
Thái Lan |
Cao su nội địa giao T7 |
100,89 Baht/kg |
▼ 0,98% |
|
Thái Lan |
RSS3 xuất khẩu |
- |
▼ 0,98% |
|
Thái Lan |
Cao su khối |
- |
▼ 0,35% |
Trong nước, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục ổn định. Công ty Bình Long duy trì giá thu mua mủ nước ở mức 505 đồng/TSC/kg và mủ tạp 18.000 đồng/kg. Tại Cao su Bà Rịa, mủ nguyên liệu được thu mua với giá 18.100 đồng/kg, trong khi mủ nước giữ ở mức 420 đồng/TSC/kg. Diễn biến này cho thấy thị trường cao su trong nước vẫn khá ổn định, dù thị trường thế giới đang xuất hiện những tín hiệu điều chỉnh do kỳ vọng nguồn cung gia tăng.
Giá hồ tiêu tăng nhẹ, xuất khẩu giữ ổn định
.png)
Sau nhiều phiên đi ngang thì giá hồ tiêu đã ghi nhận tín hiệu tích cực khi giá thu mua trong nước tăng 1.000 đồng/kg tại nhiều địa phương trọng điểm. Hiện giá tiêu dao động trong khoảng 138.000 - 140.000 đồng/kg. Trong đó, Gia Lai và Đồng Nai cùng tăng lên 138.000 đồng/kg, Bà Rịa - Vũng Tàu đạt 139.000 đồng/kg. Hai vùng sản xuất lớn là Đắk Lắk và Đắk Nông (cũ) tiếp tục duy trì mức cao nhất cả nước, ở ngưỡng 140.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tiếp tục diễn biến trái chiều. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia giảm 40 USD/tấn xuống còn 7.051 USD/tấn, trong khi tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giảm 75 USD/tấn, còn 5.950 USD/tấn. Ngược lại, giá tiêu đen Malaysia vẫn ổn định ở mức 9.350 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục được chào bán trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn. Giá tiêu trắng xuất khẩu duy trì ở mức 9.000 USD/tấn. Dù thị trường thế giới đang chịu áp lực điều chỉnh tại một số quốc gia sản xuất lớn, giá tiêu trong nước vẫn được hỗ trợ bởi nguồn cung không còn dồi dào sau vụ thu hoạch và nhu cầu xuất khẩu duy trì ổn định.
Heo hơi đi ngang sau chuỗi phiên giảm
Giá heo hơi tạm thời ổn định sau các phiên điều chỉnh trước đó. Giá thu mua trên cả nước hiện dao động từ 62.000 - 68.000 đồng/kg, trong đó miền Bắc tiếp tục là khu vực có mặt bằng giá cao nhất.
Tại miền Bắc, giá heo hơi giữ trong khoảng 67.000 - 68.000 đồng/kg. Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Phú Thọ và Hưng Yên cùng duy trì mức 68.000 đồng/kg, cao nhất cả nước. Các địa phương còn lại như Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Ninh Bình, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và Sơn La giao dịch quanh 67.000 đồng/kg.
Ở miền Trung - Tây Nguyên, giá dao động từ 63.000 - 67.000 đồng/kg. Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh giữ mức cao nhất khu vực là 67.000 đồng/kg, trong khi Đắk Lắk và Khánh Hòa ở mức 63.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá heo hơi đi ngang trong khoảng 62.000 - 65.000 đồng/kg. Đồng Nai đạt 65.000 đồng/kg, cao nhất khu vực; Cà Mau giữ mức 62.000 đồng/kg, thấp nhất cả nước. Sau nhịp giảm trước đó, thị trường hiện chưa xuất hiện yếu tố mới đủ mạnh để tạo biến động giá trong ngắn hạn.

