Thị trường hàng hóa ngày 30/10: Gạo xuất khẩu tăng mạnh, heo hơi tiếp tục chịu áp lực giảm

Thu Trang | 09:31 30/10/2026

Giá gạo xuất khẩu Việt Nam tăng ở nhiều chủng loại, nổi bật là gạo thơm 5% tấm. Cao su kỳ hạn tại Trung Quốc và Singapore đồng loạt phục hồi.

Thị trường hàng hóa ngày 30/10: Gạo xuất khẩu tăng mạnh, heo hơi tiếp tục chịu áp lực giảm

Gạo xuất khẩu tăng mạnh, gạo thơm 5% tấm đạt 515 USD/tấn

Giá gạo xuất khẩu Việt Nam tiếp tục tăng, trong khi thị trường gạo nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 500 - 515 USD/tấn, tăng 15 USD/tấn theo mức điều chỉnh được nguồn công bố. Gạo thơm 100% tấm tăng 4 USD/tấn, đạt 390 - 394 USD/tấn; gạo Jasmine tăng 8 USD/tấn, lên 535 - 539 USD/tấn.

Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm được chào bán ở mức 475 - 479 USD/tấn, còn gạo 100% tấm đạt 407 - 411 USD/tấn. Gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ duy trì 385 - 389 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm đạt 330 - 334 USD/tấn.

Trong nước, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR504 tăng lên 9.050 - 9.200 đồng/kg, so với mức 8.950 - 9.100 đồng/kg ngày trước. CL555 cũng nhích lên 9.000 - 9.200 đồng/kg.

Các loại khác ít biến động. OM5451 duy trì 9.300 - 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg. OM380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Tại thị trường bán lẻ, giá gạo đi ngang. Gạo Nàng Nhen giữ mức 28.000 đồng/kg, Hương Lài 22.000 đồng/kg, Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg và Đài Thơm 8 từ 15.500 - 16.000 đồng/kg.

Giá gạo xuất khẩu Việt Nam ghi nhận đà tăng ở cả ba chủng loại được khảo sát, trong đó gạo thơm 5% tấm có mức điều chỉnh nổi bật. Giá gạo nguyên liệu IR504 và CL555 cũng tăng so với ngày trước, nhưng phần lớn các loại gạo khác vẫn ổn định.

Cao su phục hồi trên sàn SHFE và SGX

a56f7b5a-f088-4757-9d00-ec7fad663656.png

Giá cao su kỳ hạn tại Trung Quốc và Singapore đồng loạt tăng sau phiên giảm trước đó, trong khi thị trường Nhật Bản chưa ghi nhận diễn biến đồng thuận.

Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE), cao su tự nhiên hợp đồng tháng 11 tăng 0,64%, lên 18.880 Nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng tháng 1/2027 tăng 0,82%, đạt 19.570 Nhân dân tệ/tấn.

Đáng chú ý, cao su butadiene kỳ hạn tháng 12 trên SHFE tăng 545 Nhân dân tệ/tấn, tương đương 3,32%, lên 16.950 Nhân dân tệ/tấn.

Tại Singapore, cao su TSR20 tháng 11 tăng 0,16%, lên 255,40 Cent/kg; hợp đồng tháng 12 tăng 0,56%, đạt 251,40 Cent/kg.

Trên sàn TOCOM (Nhật Bản), hợp đồng RSS3 tháng 11 ở mức 435,50 Yên/kg, trong khi kỳ hạn tháng 12 giữ mức 438 Yên/kg. Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu RSS3 tăng 0,26%, lên 96,88 Baht/kg.

Trong nước, giá thu mua tiếp tục ổn định.

Giá cao su trên SHFE và SGX đã chuyển sang tăng, cho thấy diễn biến phục hồi tại hai thị trường sau phiên suy yếu. Tuy nhiên, các hợp đồng trên TOCOM chưa có tín hiệu tăng tương ứng, nên xu hướng giữa các sàn vẫn phân hóa.

Heo hơi ở vùng giá thấp, chưa rõ thời điểm chấm dứt đà giảm

Thị trường heo hơi tiếp tục chịu áp lực sau nhiều phiên giảm liên tiếp. Theo bảng tham chiếu được công bố cho ngày 30/10, sử dụng dữ liệu ngày 29/10, giá heo hơi cả nước dao động 43.000 - 47.000 đồng/kg.

e798a06a-237e-47c5-9109-80c772dcbb83.png

Tại miền Bắc, mức giá tham chiếu nằm trong khoảng 44.000 - 46.000 đồng/kg. Tuyên Quang, Lạng Sơn và Ninh Bình ở mức 44.000 đồng/kg; Hải Phòng, Lai Châu và Hưng Yên đạt 46.000 đồng/kg.

Miền Trung - Tây Nguyên ghi nhận mức thấp nhất 43.000 đồng/kg tại Hà Tĩnh và Gia Lai. Lâm Đồng đạt 47.000 đồng/kg, cao nhất khu vực.

Tại miền Nam, Đồng Nai, Tây Ninh và TP. Hồ Chí Minh cùng ở mức 47.000 đồng/kg. An Giang ghi nhận 44.000 đồng/kg, trong khi các địa phương còn lại được khảo sát chủ yếu ở mức 45.000 đồng/kg.

Giá heo hơi tiếp tục ở vùng thấp sau chuỗi phiên điều chỉnh. Tuy nhiên, do số liệu trên là bảng tham chiếu từ ngày 29/10, chưa đủ cơ sở xác định mức tăng, giảm thực tế trong sáng 30/10.

Hồ tiêu duy trì vùng 137.000 - 140.000 đồng/kg

Giá hồ tiêu trong nước được tham chiếu ở mức 137.000 - 140.000 đồng/kg.

Đắk Lắk giữ mức cao nhất 140.000 đồng/kg; Đắk Nông (Lâm Đồng) đạt 139.000 đồng/kg. Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) ở mức 137.500 đồng/kg, trong khi Gia Lai và khu vực Bình Phước (Đồng Nai) cùng đạt 137.000 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, bộ giá tham chiếu ngày 29/10 ghi nhận tiêu đen Malaysia ở mức 9.100 USD/tấn, Indonesia 6.850 USD/tấn và Brazil 5.800 USD/tấn.

Tiêu đen xuất khẩu Việt Nam loại 500 g/l đạt 5.950 USD/tấn, loại 550 g/l ở mức 5.995 USD/tấn. Giá tiêu trắng Việt Nam duy trì 8.450 USD/tấn; Indonesia đạt 9.354 USD/tấn và Malaysia 12.000 USD/tấn.

Mặt bằng giá tham chiếu trong nước tiếp tục có khoảng cách 3.000 đồng/kg giữa vùng cao nhất và thấp nhất. Diễn biến thực tế trong ngày 30/10 cần thêm dữ liệu thu mua mới để xác định xu hướng.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Có thể bạn quan tâm
Chủ tịch VVA: Tạp chí MarketTimes là “tiếng nói” của VVA và cũng là cánh tay nối dài của ngành tài chính
Theo ông Nguyễn Tiến Thỏa - Chủ tịch Hội Thẩm định giá Việt Nam (VVA), trải qua chặng đường 5 năm hình thành và phát triển trong bối cảnh kinh tế xã hội nói chung và lĩnh vực thẩm định giá nói riêng, rộng hơn là ngành tài chính chứng kiến nhiều biến động, Tạp chí điện tử Nhịp số Thị trường (MarketTimes) đã thực sự hòa cùng từng nhịp thở của nền kinh tế thị trường, từng bước khẳng định vị thế là tiếng nói truyền thông của VVA và cũng là cánh tay nối dài của ngành tài chính.
Thị trường hàng hóa ngày 30/10: Gạo xuất khẩu tăng mạnh, heo hơi tiếp tục chịu áp lực giảm
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO