Heo hơi tiếp tục lao dốc, xuất hiện mức giá 44.000 đồng/kg
Giá heo hơi hôm nay tiếp tục giảm 1.000 - 2.000 đồng/kg tại nhiều địa phương, đưa khung giao dịch toàn quốc xuống 44.000 - 49.000 đồng/kg. Mốc 50.000 đồng/kg không còn được ghi nhận tại các khu vực khảo sát.
Tại miền Bắc, 7/15 địa phương giảm thêm 1.000 đồng/kg. Lạng Sơn, Ninh Bình và Lào Cai cùng xuống 45.000 đồng/kg, trong khi các địa phương còn lại phổ biến 46.000 - 47.000 đồng/kg.
Miền Trung - Tây Nguyên đồng loạt giảm trở lại sau một phiên đi ngang. Cả 11 địa phương được khảo sát đều giảm 1.000 - 2.000 đồng/kg, đưa giá thu mua xuống 44.000 - 48.000 đồng/kg. Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh cùng ở mức 44.000 đồng/kg, thấp nhất cả nước. Lâm Đồng giữ mức cao nhất khu vực với 48.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, toàn bộ 8 địa phương khảo sát đều giảm 1.000 - 2.000 đồng/kg. Tây Ninh và TP. Hồ Chí Minh cùng giảm 2.000 đồng/kg, xuống 48.000 đồng/kg; Cà Mau giảm tương ứng còn 45.000 đồng/kg. Giá toàn khu vực dao động 45.000 - 49.000 đồng/kg.

Sau phiên tạm chững tại hai miền, đà giảm đã lan rộng trở lại trên cả nước. Việc xuất hiện mức 44.000 đồng/kg và không còn địa phương đạt 50.000 đồng/kg cho thấy mặt bằng giá heo hơi tiếp tục lùi sâu.
Gạo xuất khẩu tăng giá, Jasmine đạt 523 USD/tấn
Giá gạo nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định, trong khi một số chủng loại gạo xuất khẩu của Việt Nam ghi nhận mức tăng mới.
Gạo nguyên liệu xuất khẩu IR504 và CL555 cùng duy trì 8.950 - 9.100 đồng/kg. OM5451 dao động 9.300 - 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg. Hai loại OM380 và Sóc thơm cùng đạt 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo ít biến động. Gạo Nàng Nhen giữ mức 28.000 đồng/kg, Hương Lài 22.000 đồng/kg, Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg và Đài Thơm 8 từ 15.500 - 16.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, gạo thơm 100% tấm của Việt Nam tăng 6 USD/tấn, lên 386 - 390 USD/tấn. Gạo Jasmine tăng 1 USD/tấn, đạt 519 - 523 USD/tấn. Riêng gạo thơm 5% tấm duy trì 470 - 475 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm tăng 5 USD/tấn, lên 475 - 479 USD/tấn. Gạo 5% tấm của Ấn Độ tăng 1 USD/tấn, đạt 385 - 389 USD/tấn.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam tiếp tục cải thiện ở nhóm gạo thơm 100% tấm và Jasmine, trong khi thị trường gạo nguyên liệu trong nước tương đối ổn định. Diễn biến này cho thấy mức tăng chưa đồng đều giữa các phân khúc.
Hồ tiêu giảm nhẹ, Đắk Lắk giữ mốc 140.000 đồng/kg
Giá hồ tiêu trong nước hôm nay dao động 137.000 - 140.000 đồng/kg, với mức giảm đáng chú ý tại khu vực Đắk Nông.
Cụ thể, Đắk Nông (Lâm Đồng) giảm 1.000 đồng/kg, xuống 139.000 đồng/kg. Đắk Lắk giữ nguyên 140.000 đồng/kg, trở thành địa phương có giá thu mua cao nhất trong các khu vực khảo sát.
Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) ổn định ở 137.500 đồng/kg. Gia Lai và khu vực Bình Phước (Đồng Nai) cùng duy trì 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong nhóm địa phương được khảo sát.
Trên thị trường thế giới, giá tiêu nhìn chung đi ngang. Tiêu đen Indonesia đạt 6.850 USD/tấn, Malaysia 9.100 USD/tấn và Brazil 5.800 USD/tấn.
Giá tiêu đen xuất khẩu Việt Nam loại 500 g/l duy trì 5.950 USD/tấn, loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam giữ mức 8.450 USD/tấn, trong khi Indonesia và Malaysia lần lượt đạt 9.354 USD/tấn và 12.000 USD/tấn.
Thị trường hồ tiêu tiếp tục phân hóa giữa các địa phương, với Đắk Lắk giữ giá cao nhất và Đắk Nông điều chỉnh giảm. Giá xuất khẩu ổn định cho thấy thị trường quốc tế chưa ghi nhận biến động đáng kể trong phiên.
Cao su thế giới giảm tại Trung Quốc và Singapore

Giá cao su thế giới hôm nay nghiêng về chiều giảm khi các hợp đồng trên sàn SHFE, SGX và giá chào xuất khẩu tại Thái Lan đồng loạt đi xuống. Ngược lại, thị trường Nhật Bản ghi nhận mức tăng ở hai kỳ hạn được khảo sát.
Trên sàn TOCOM, cao su RSS3 hợp đồng tháng 11 tăng 0,90%, lên 442 Yên/kg; hợp đồng tháng 12 tăng 1,14%, đạt 440 Yên/kg.
Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu RSS3 giảm 0,05%, còn 96,15 Baht/kg.
Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE), cao su tự nhiên hợp đồng tháng 11 giảm 1%, xuống 18.820 Nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng tháng 1/2027 giảm 0,91%, còn 19.505 Nhân dân tệ/tấn.
Tại Singapore, TSR20 tháng 11 giảm 0,54%, xuống 255,70 Cent/kg; hợp đồng tháng 12 giảm 0,79%, còn 250,80 Cent/kg.
Trong nước, giá thu mua tiếp tục ổn định.
Giá cao su quốc tế chưa hình thành xu hướng đồng nhất khi Nhật Bản tăng, còn Trung Quốc, Singapore và Thái Lan giảm. Những phiên tới, diễn biến trên SHFE và SGX sẽ là các tín hiệu đáng chú ý để theo dõi xu hướng giá.
