So với tháng 12/2025, CPI tháng Chín tăng 4,2%; tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân quý III/2026 tăng 4,8% so với quý III/2025. Bình quân 9 tháng năm 2026, CPI tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,26%.

So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 9/2026 tăng 5,08%. Cả 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính đều tăng giá.
So với tháng 12/2025, CPI tháng Chín tăng 4,2% khi cả 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đều tăng giá, phản ánh mặt bằng giá tiêu dùng tiếp tục xu hướng tăng.
Chỉ số giá tiêu dùng quý III/2026 tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2025. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính đều tăng giá.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,52% so với cùng kỳ năm 2025. So với cùng kỳ năm trước, tốc độ tăng CPI trong 9 tháng năm 2026 có xu hướng tăng nhanh trong những tháng đầu năm, đạt mức cao nhất vào tháng Năm, sau đó giảm trong tháng Sáu và tháng Bảy trước khi tăng trở lại trong tháng Tám và tháng Chín.
Trong 9 tháng năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều bất ổn trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị gia tăng, triển vọng tăng trưởng toàn cầu còn nhiều yếu tố bất định và áp lực lạm phát có xu hướng tăng trở lại. Xung đột tại khu vực Trung Đông làm gia tăng rủi ro đối với an ninh hàng hải, nguồn cung năng lượng và các tuyến vận tải, thương mại quan trọng như Biển Đỏ và eo biển Hormuz.
Sau khi hạ nhiệt tại một số thời điểm, giá dầu tăng trở lại từ đầu tháng 9/2026 do xung đột Mỹ - Iran và các cuộc tấn công nhằm vào cơ sở hạ tầng, tuyến vận chuyển dầu tại khu vực Trung Đông.
Bên cạnh đó, xu hướng gia tăng các biện pháp bảo hộ thương mại, tăng cường kiểm soát xuất nhập khẩu và tích trữ hàng hóa chiến lược tại một số nền kinh tế lớn, cùng với chi phí bảo hiểm và logistics tăng, làm gia tăng nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu.
Những yếu tố này tạo áp lực lên giá năng lượng, nguyên nhiên vật liệu và một số mặt hàng thiết yếu trên thị trường thế giới. Trong bối cảnh áp lực lạm phát có xu hướng tăng trở lại do giá năng lượng, chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn được điều hành theo hướng thận trọng hơn.
Ngày 16/9/2026, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất quỹ liên bang thêm 0,25 điểm phần trăm, lên 3,75%-4%, do lạm phát vẫn ở mức cao và rủi ro địa chính trị gia tăng. Ngày 10/9/2026, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tăng 0,25 điểm phần trăm cả ba mức lãi suất chủ chốt, theo đó từ ngày 16/9/2026, lãi suất tiền gửi lên 2,5%; lãi suất tái cấp vốn lên 2,65% và lãi suất cho vay cận biên lên 2,9%. Trong khi đó, tại cuộc họp ngày 16/9/2026, Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 3,75%.
Trong nước, trước những biến động của kinh tế thế giới và áp lực lạm phát gia tăng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Về chỉ số giá tiêu dùng, So với tháng trước, CPI tháng 9/2026 tăng 0,62% (khu vực thành thị tăng 0,63%; khu vực nông thôn tăng 0,61%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 9 nhóm hàng tăng giá và 02 nhóm hàng giảm giá.
Đáng chú ý, trong các nhóm chỉ số, chỉ số giá nhóm giao thông tháng 9/2026 tăng 3,97% so với tháng trước, tác động làm tăng CPI chung 0,4 điểm phần trăm. Một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước. Chỉ số giá xăng tăng 9,39%; chỉ số giá dầu diesel tăng 4,53% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước.
Chỉ số giá nhóm giáo dục tháng Chín tăng 1,41% so với tháng trước, tác động làm tăng CPI chung 0,08 điểm phần trăm. Trong đó, giá dịch vụ giáo dục tăng 1,6% do một số trường đại học, trung học dân lập và mầm non tư thục tại một số địa phương điều chỉnh tăng học phí năm học 2026-2027. Bên cạnh đó, giá bút viết các loại tăng 0,62%; văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác tăng 0,59%; sản phẩm từ giấy tăng 0,55%.
Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 25/9/2026, bình quân giá vàng thế giới ở mức 4.434,45 USD/ounce, tăng 1,31% so với tháng trước, chủ yếu do đồng USD suy yếu, lợi suất trái phiếu Mỹ giảm và dòng vốn đầu tư vào các quỹ vàng tăng.
Bên cạnh đó, căng thẳng địa chính trị làm gia tăng nhu cầu trú ẩn an toàn. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 9/2026 tăng 2,38% so với tháng trước; tăng 12,42% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 4,04% so với tháng 12/2025; bình quân 9 tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 42,67% so với cùng kỳ năm trước.
Giá đô la Mỹ trong nước biến động cùng chiều với giá thế giới. Tính đến ngày 25/9/2026, chỉ số USD bình quân trên thị trường quốc tế tháng 9/2026 đạt mức 99,5 điểm, giảm 0,16 điểm so với tháng 8/2026, trong bối cảnh kỳ vọng về chính sách tiền tệ của Mỹ thay đổi và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ giảm. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2026 giảm 0,69% so với tháng trước; giảm 1,34% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 1,07% so với tháng 12/2025; bình quân 9 tháng năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,01% so với cùng kỳ năm trước.
