Tuy nhiên, trao đổi với MarketTimes, GS.TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa cho rằng, tư duy "Mỹ giảm thì châu Âu tăng" mang tính cơ học và chứa đựng nhiều rủi ro. Thay vào đó, Việt Nam cần một chiến lược "đa cực thị trường" cùng sự thay đổi căn cơ trong chuỗi cung ứng.
MarketTimes: Thưa ông, khi mức thuế quan 12,5% được Hoa Kỳ áp dụng, những khó khăn đã giội xuống các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam - đặc biệt là khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) – điều này tác động như thế nào đến mảng xuất khẩu Việt Nam?
GS.TS. Mạc Quốc Anh: Trước hết, tôi cho rằng cần nhìn đúng bản chất của mức thuế 12,5%. Đây là thuế bổ sung theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại Hoa Kỳ, có hiệu lực từ ngày 24/7/2026, xuất phát từ đánh giá của phía Hoa Kỳ về việc các nền kinh tế chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả cơ chế cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức. Việt Nam thuộc nhóm chịu mức 12,5%; sau khi loại trừ các nhóm hàng được miễn. Bộ Công Thương cho biết biện pháp này áp dụng đối với khoảng 37% kim ngạch xuất khẩu hiện nay của Việt Nam sang Hoa Kỳ.
Với SMEs, khó khăn đầu tiên là cú sốc về biên lợi nhuận. Nhiều đơn hàng xuất khẩu chỉ có lợi nhuận vài phần trăm, vì vậy doanh nghiệp không thể đơn giản hấp thụ thêm 12,5% chi phí. Nhà nhập khẩu Mỹ có thể yêu cầu chia sẻ thuế, ép giảm giá hoặc chuyển một phần đơn hàng sang quốc gia có lợi thế hơn.
Dệt may là ví dụ rất đáng lưu ý: Bangladesh, Campuchia, Indonesia và Malaysia hiện thuộc nhóm 10% và còn được Hoa Kỳ dự kiến thiết lập cơ chế hạn ngạch thuế quan gắn với việc sử dụng bông, nguyên liệu dệt may của nước này.
Khó khăn thứ hai là dòng tiền và chi phí tuân thủ. Doanh nghiệp phải kéo dài thời gian đàm phán, tăng vốn lưu động, bổ sung hồ sơ về xuất xứ, lao động, nhà cung cấp và khả năng truy xuất nguyên liệu. SMEs thường không có bộ phận pháp chế thương mại quốc tế riêng, cũng chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu nhà cung cấp nhiều tầng; do đó chi phí tuân thủ tính trên một đồng doanh thu cao hơn doanh nghiệp lớn.
Đáng lưu ý, năm 2025 Hoa Kỳ nhập khẩu khoảng 193,8 tỷ USD hàng hóa từ Việt Nam; chỉ trong 6tháng đầu năm 2026 con số đã hơn 123 tỷ USD. Điều đó cho thấy Hoa Kỳ có vai trò đặc biệt quan trọng trong cấu trúc sản xuất – xuất khẩu của Việt Nam.
Với SMEs, khó khăn đầu tiên là cú sốc về biên lợi nhuận. Khó khăn thứ hai là dòng tiền và chi phí tuân thủ.

MarketTimes: Nhiều ý kiến kỳ vọng đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường châu Âu (EU) nhờ các FTAs sẽ bù đắp khoảng trống từ thị trường Mỹ. Theo ông, EU có đủ sức cân bằng lại áp lực này không?
GS.TS. Mạc Quốc Anh: EU rất quan trọng, nhưng tôi không cho rằng EU có thể “thay thế” Hoa Kỳ theo một phép cộng cơ học. Năm 2025, tổng thương mại hàng hóa EU – Việt Nam đạt khoảng 76 tỷ euro, trong đó EU thâm hụt 51,7 tỷ euro; từ số liệu này có thể tính lượng hàng EU nhập từ Việt Nam vào khoảng 63,9 tỷ euro. Trong khi riêng hàng hóa Hoa Kỳ nhập khẩu từ Việt Nam năm 2025 đã đạt khoảng 193,8 tỷ USD.
Quy mô thị trường cho thấy nếu xuất khẩu sang Mỹ suy giảm đáng kể thì rất khó lấp khoảng trống đó ngay lập tức bằng EU mặc dù EVFTA là một lợi thế chiến lược. Hiệp định hướng tới xóa bỏ 99% thuế quan, với EU tiếp tục lộ trình loại bỏ thuế đối với hàng Việt Nam đến năm 2027.
Tuy nhiên, thuế thấp không đồng nghĩa cửa vào thị trường dễ. EU đặt ra yêu cầu rất cao về quy tắc xuất xứ, an toàn sản phẩm, môi trường, trách nhiệm chuỗi cung ứng và tiêu chuẩn xanh. Muốn tăng nhanh xuất khẩu sang EU, nhiều doanh nghiệp sẽ phải thay đổi sản phẩm, nguyên liệu, chứng nhận và cả hệ thống quản trị.
Do vậy, cách tiếp cận đúng phải là “đa cực thị trường”, chứ không phải “Mỹ giảm thì EU tăng”. Mỗi ngành cần xây dựng một danh mục thị trường thay thế khác nhau và không để một khách hàng, một quốc gia hay một chuỗi bán lẻ chi phối quá lớn doanh thu.
Cách tiếp cận đúng phải là “đa cực thị trường”, chứ không phải “Mỹ giảm thì EU tăng”. Mỗi ngành cần xây dựng một danh mục thị trường thay thế khác nhau và không để một khách hàng, một quốc gia hay một chuỗi bán lẻ chi phối quá lớn doanh thu.
MarketTimes: Hoa Kỳ thực hiện các cuộc điều tra về sở hữu trí tuệ, lao động cưỡng bức và vấn đề trung chuyển, dán nhãn xuất xứ từ Trung Quốc sang Việt Nam. Doanh nghiệp và nền kinh tế phải tái cấu trúc như thế nào?
GS.TS. Mạc Quốc Anh: Tôi cho rằng trước hết phải tách rõ các lớp rủi ro. Mức thuế 12,5% hiện nay xuất phát từ vụ việc Mục 301 liên quan đến cơ chế cấm nhập khẩu hàng có yếu tố lao động cưỡng bức. Việt Nam đồng thời đang chịu một cuộc điều tra Mục 301 riêng về bảo hộ và thực thi sở hữu trí tuệ, được Cơ quan đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) khởi xướng ngày 29/5/2026, và nằm trong nhóm các nền kinh tế bị điều tra về vấn đề dư thừa công suất sản xuất mang tính cơ cấu.
Còn trung chuyển, né thuế và gian lận xuất xứ là một trọng tâm về thực thi hải quan, chống né thuế và đàm phán thương mại. Khung đàm phán Mỹ – Việt cũng đã đề cập hợp tác tăng khả năng chống chịu chuỗi cung ứng và xử lý hành vi trốn, né thuế. Tái cấu trúc đầu tiên phải là xuất xứ. Việt Nam không thể trở thành một “trạm thay nhãn”.
Có đầu vào từ Trung Quốc không mặc nhiên có nghĩa là vi phạm; vấn đề nằm ở chỗ quá trình sản xuất tại Việt Nam có tạo ra sự chuyển đổi thực chất hay không và doanh nghiệp có chứng minh được quá trình đó hay không.

Vì vậy doanh nghiệp phải số hóa hồ sơ nguyên liệu, định danh nhà cung cấp, lưu dữ liệu theo lô, kiểm soát C/O, định mức sản xuất và giá trị gia tăng.
Về vấn đề sở hữu trí tuệ. Khi USTR đã khởi động điều tra, đây không còn đơn thuần là tranh chấp giữa hai doanh nghiệp mà trở thành rủi ro thương mại ở cấp độ quốc gia. Việt Nam cần nâng hiệu quả xử lý hàng giả, bản quyền trên môi trường số, bí mật kinh doanh và thực thi quyền tại biên giới; doanh nghiệp phải chủ động kiểm kê, đăng ký và bảo vệ tài sản trí tuệ tại các thị trường đích.
Về lao động và chuỗi cung ứng. Ngày 22/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 292/2026/NĐ-CP, trong đó có quy định cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức. Điều quyết định tiếp theo là phải chứng minh được hiệu quả thực thi bằng hệ thống sàng lọc, kiểm tra và truy xuất dữ liệu. Cuối cùng là chuyển từ mở rộng sản lượng sang nâng năng suất, giá trị gia tăng và nội địa hóa thực chất. Đây mới là lá chắn bền vững nhất trước những nghi ngờ về chuyển tải thương mại.
MarketTimes: Để đàm phán hiệu quả với Mỹ, Chính phủ và các Hiệp hội ngành hàng cần chuẩn bị những luận cứ, cam kết hay “món quà đàm phán” chiến lược nào?
GS.TS. Mạc Quốc Anh: Tôi không muốn hiểu “món quà đàm phán” theo nghĩa nhượng bộ đơn phương. Đàm phán thương mại hiện đại phải là một “gói lợi ích cân bằng”: những gì Việt Nam cam kết với Hoa Kỳ đồng thời phải phục vụ quá trình nâng cấp chính nền kinh tế Việt Nam.
Thứ nhất, đối với mức 12,5%, luận cứ trọng tâm là chứng minh Việt Nam đã có khuôn khổ pháp lý về cấm nhập khẩu hàng liên quan lao động cưỡng bức và quan trọng hơn là có cơ chế thực thi hiệu quả. Kết luận cuối cùng của USTR cho thấy các nền kinh tế có lệnh cấm, cam kết hoặc cơ chế phù hợp thuộc nhóm 10%. Vì vậy cần đàm phán một bộ tiêu chí thực thi, đầu mối trao đổi và thời điểm rà soát cụ thể để phía Mỹ có căn cứ xem xét điều chỉnh Việt Nam xuống nhóm thuế thấp hơn.

Thứ hai là hợp tác chuỗi cung ứng có lợi ích kinh tế thực chất: tăng nhập bông, nguyên liệu dệt, nông sản, năng lượng, máy móc, công nghệ cao và sản phẩm hàng không Mỹ khi phù hợp với nhu cầu của Việt Nam. Khung thỏa thuận Mỹ – Việt công bố cuối năm 2025 đã ghi nhận kế hoạch mua 50 máy bay Boeing trị giá trên 8 tỷ USD, cùng 20 biên bản ghi nhớ mua nông sản Mỹ với tổng giá trị ước tính khoảng 2,9 tỷ USD. Đây là ví dụ cho việc tạo lợi ích hai chiều, nhưng mọi cam kết mua hàng vẫn phải dựa trên hiệu quả kinh tế, không nên biến thành chi phí chính sách cho doanh nghiệp.
Thứ ba, cần một kế hoạch hành động về sở hữu trí tuệ với những chỉ tiêu đo đếm được.
Thứ tư là hợp tác chống gian lận xuất xứ, chia sẻ dữ liệu hải quan, truy xuất nguyên liệu và phối hợp điều tra né thuế. Việt Nam càng chủ động xử lý hành vi gian lận thì càng bảo vệ được những doanh nghiệp Việt Nam làm ăn chân chính.
Và khi bàn về cán cân thương mại, Việt Nam cần đề nghị phía Mỹ nhìn rộng hơn tới thương mại dịch vụ, đầu tư, giá trị gia tăng, mua sắm dài hạn và lợi ích của doanh nghiệp Mỹ trong chuỗi cung ứng tại Việt Nam, thay vì chỉ nhìn vào một con số nhập siêu hàng hóa. Mục tiêu cao hơn là chuyển cuộc đối thoại từ “xử lý thâm hụt thương mại” sang “cùng thiết kế chuỗi cung ứng chiến lược”.
Việt Nam cần đề nghị phía Mỹ nhìn rộng hơn tới thương mại dịch vụ, đầu tư, giá trị gia tăng, mua sắm dài hạn và lợi ích của doanh nghiệp Mỹ trong chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
MarketTimes: Trân trọng cảm ơn ông vì cuộc trò truyện này!
