Thị trường hàng hóa ngày 26/9: Cao su chạm đỉnh 15 năm, heo hơi giảm lan rộng

Thu Trang | 09:24 26/09/2026

Giá cao su đồng loạt tăng trên các sàn châu Á, trong đó thị trường Nhật Bản có thời điểm chạm mức cao nhất 15 năm. Ngược lại, giá heo hơi giảm tại nhiều địa phương trên cả ba miền.

Thị trường hàng hóa ngày 26/9: Cao su chạm đỉnh 15 năm, heo hơi giảm lan rộng

Cao su tăng mạnh, Nhật Bản chạm đỉnh 15 năm

Thị trường cao su thế giới tiếp tục khởi sắc trong phiên 26/9 khi sắc xanh bao phủ các sàn giao dịch chủ chốt tại châu Á.

Tại Sàn Giao dịch Osaka (OSE), hợp đồng cao su tháng 10 tăng 2,27% lên 465 Yên/kg. Đáng chú ý, hợp đồng tháng 2/2027 tăng 4,67% lên 450,3 Yên/kg và có thời điểm chạm mức cao nhất kể từ tháng 4/2011.

Thị trường Trung Quốc cũng tăng mạnh. Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE), hợp đồng tháng 10 đạt 18.740 Nhân dân tệ/tấn, tăng 1,76%; hợp đồng tháng 11 tăng 2,32% lên 18.780 Nhân dân tệ/tấn.

Tại Singapore, cao su TSR20 tháng 10 tăng 1,68% lên 253,70 Cent/kg, hợp đồng tháng 11 tăng 1,42% lên 250,50 Cent/kg. Giá chào xuất khẩu RSS3 của Thái Lan cũng tăng 0,76 Baht lên 93,86 Baht/kg.

Trái với thị trường thế giới, giá thu mua cao su trong nước tiếp tục ổn định. Bình Long giữ giá mủ tạp DRC 60% ở mức 18.000 đồng/kg; Phú Riềng thu mua mủ nước 420 đồng/TSC; Bà Rịa duy trì mủ đông DRC ở 14.600 đồng/kg và mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Việc đồng loạt tăng tại Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore và Thái Lan cho thấy lực mua trên thị trường quốc tế đang được củng cố. Tuy nhiên, sau nhịp tăng mạnh, diễn biến những phiên tới cần theo dõi thêm khả năng duy trì lực mua và phản ứng của thị trường trước mặt bằng giá cao.

Heo hơi giảm lan rộng

Giá heo hơi tiếp tục đi xuống khi mức giảm 1.000 đồng/kg xuất hiện tại nhiều địa phương thuộc cả ba miền. Giá thu mua trên toàn quốc hiện dao động 57.000 - 60.000 đồng/kg.

Miền Bắc ghi nhận mức điều chỉnh rộng nhất khi Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Lào Cai và Điện Biên đồng loạt giảm 1.000 đồng/kg. Sau điều chỉnh, Thái Nguyên và Bắc Ninh còn 59.000 đồng/kg. 

anh-man-hinh-2026-09-26-luc-08.10.14.png
Giá heo hơi miền Bắc ngày 26/09/2026

Tại miền Trung - Tây Nguyên, Thanh Hóa giảm 1.000 đồng/kg xuống 58.000 đồng/kg. Khu vực hiện không còn địa phương nào ở mức 59.000 đồng/kg. Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Lâm Đồng cùng đạt 58.000 đồng/kg; các địa phương còn lại ở mức 57.000 đồng/kg.

anh-man-hinh-2026-09-26-luc-08.10.23.png
Giá heo hơi miền Trung - Tây Nguyên ngày 26/09/2026

Miền Nam cũng nối dài đà giảm khi Tây Ninh và Cần Thơ cùng mất 1.000 đồng/kg, xuống 57.000 đồng/kg. Nhóm giao dịch ở mức này hiện gồm Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ và Cà Mau. Đồng Nai vẫn cao nhất khu vực với 59.000 đồng/kg.

anh-man-hinh-2026-09-26-luc-08.33.31.png
Giá heo hơi miền Nam ngày 26/09/2026

So với những phiên điều chỉnh cục bộ trước đó, xu hướng giảm đã lan rộng rõ rệt hơn khi xuất hiện đồng thời ở cả ba miền. Dù mức giảm mới chủ yếu là 1.000 đồng/kg, việc số địa phương giữ mốc 60.000 đồng/kg thu hẹp cho thấy mặt bằng giá đang chịu áp lực điều chỉnh.

Giá tiêu trong nước đi ngang, xuất khẩu giảm

Giá hồ tiêu tại các vùng sản xuất trọng điểm ổn định trong khoảng 136.000 - 140.000 đồng/kg sau hai phiên giảm trước đó.

Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục giữ mức cao nhất 140.000 đồng/kg; Đắk Lắk đạt 138.000 đồng/kg; Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) ở mức 136.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng đứng ở mức 136.000 đồng/kg.

Trong khi thị trường nội địa ổn định, giá xuất khẩu có sự phân hóa. Tiêu đen Indonesia giảm 58 USD/tấn xuống 6.828 USD/tấn. Tại Việt Nam, tiêu đen loại 500 g/l giảm 100 USD/tấn xuống 5.970 USD/tấn, loại 550 g/l giảm 55 USD/tấn còn 6.075 USD/tấn.

Ngược chiều, tiêu đen Brazil tăng 100 USD/tấn lên 5.850 USD/tấn, trong khi Malaysia giữ nguyên 9.250 USD/tấn.

Giá tiêu nội địa tạm thời ổn định sau nhịp giảm, song việc giá tiêu đen xuất khẩu Việt Nam và Indonesia cùng đi xuống có thể tạo tâm lý thận trọng cho thị trường. Diễn biến xuất khẩu sẽ là yếu tố đáng chú ý trong những phiên tới.

Giá gạo nguyên liệu ổn định

37a86bfa-168b-4c3d-8909-c21ade055db4.png

Thị trường gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ít biến động. Gạo nguyên liệu CL 555 dao động 8.700 - 8.800 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; OM 5451 đạt 9.300 - 9.400 đồng/kg.

Gạo OM 18 được giao dịch ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 đạt 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đi ngang. Gạo thơm 5% tấm đạt 440 - 445 USD/tấn, Jasmine 526 - 530 USD/tấn và gạo thơm 100% tấm 368 - 372 USD/tấn.

Dù giá gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long biến động trái chiều, mặt bằng giá gạo nguyên liệu và xuất khẩu vẫn khá ổn định. Trong bối cảnh giao dịch tại nhiều địa phương còn chậm, giá gạo nhiều khả năng tiếp tục dao động trong biên độ hẹp.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Thị trường hàng hóa ngày 26/9: Cao su chạm đỉnh 15 năm, heo hơi giảm lan rộng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO