Thị trường hàng hóa ngày 22/9: Heo hơi tiếp đà tăng, cao su diễn biến trái chiều

Thu Trang | 08:16 22/09/2026

Giá heo hơi tiếp tục tăng tại một số địa phương miền Bắc và miền Trung - Tây Nguyên. Trong khi đó, giá tiêu và gạo trong nước chủ yếu đi ngang.

Thị trường hàng hóa ngày 22/9: Heo hơi tiếp đà tăng, cao su diễn biến trái chiều

Heo hơi tiếp đà tăng

Giá heo hơi tiếp tục ghi nhận những nhịp tăng nhẹ tại miền Bắc và miền Trung - Tây Nguyên, đưa mặt bằng giá trên cả nước dao động trong khoảng 57.000 - 60.000 đồng/kg.

Tại miền Bắc, Lào Cai tăng 1.000 đồng/kg lên 59.000 đồng/kg. Sau điều chỉnh, khu vực không còn địa phương nào giao dịch ở mức 58.000 đồng/kg, giá thu mua thu hẹp về hai mức 59.000 đồng/kg và 60.000 đồng/kg.

Thái Nguyên, Hà Nội và Hưng Yên tiếp tục dẫn đầu với 60.000 đồng/kg, đồng thời là mức cao nhất cả nước. Các địa phương còn lại cùng giao dịch ở mức 59.000 đồng/kg.

anh-man-hinh-2026-09-22-luc-07.48.03.png
Giá heo hơi miền Bắc ngày 22/09/2026

Tại miền Trung - Tây Nguyên, Thanh Hóa cũng tăng 1.000 đồng/kg lên 59.000 đồng/kg, cao nhất khu vực. Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đắk Lắk và Lâm Đồng duy trì 58.000 đồng/kg; các địa phương còn lại ở mức 57.000 đồng/kg.

anh-man-hinh-2026-09-22-luc-07.48.28.png
Giá heo hơi miền Trung - Tây Nguyên ngày 22/09/2026

Miền Nam tiếp tục đi ngang. Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng giữ mức 58.000 đồng/kg. Cà Mau thấp nhất với 57.000 đồng/kg.

anh-man-hinh-2026-09-19-luc-07.05.42.png
Giá heo hơi miền Nam ngày 22/09/2026

Việc giá tiếp tục tăng tại Lào Cai và Thanh Hóa cho thấy đà phục hồi đang được duy trì, dù mức điều chỉnh mới dừng ở 1.000 đồng/kg. Miền Bắc đang hình thành mặt bằng giá cao hơn rõ rệt so với hai khu vực còn lại, song chưa xuất hiện tín hiệu tăng mạnh trên phạm vi cả nước.

Cao su tiếp tục phân hóa

Giá cao su trên các sàn giao dịch châu Á biến động trái chiều, trong đó SHFE duy trì sắc xanh trong khi TOCOM và SGX phân hóa giữa các kỳ hạn.

Trên sàn TOCOM (Nhật Bản), hợp đồng RSS3 tháng 9 ở mức 462,60 Yên/kg, giảm 11,09%; kỳ hạn tháng 10 tăng 0,29%, lên 454,70 Yên/kg. Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu RSS3 nhích lên 92,14 Baht/kg.

Trên sàn SHFE (Trung Quốc), hợp đồng tháng 10 tăng 0,64% lên 17.995 Nhân dân tệ/tấn; kỳ hạn tháng 11 tăng 0,70%, đạt 18.035 Nhân dân tệ/tấn.

Tại Singapore, hợp đồng TSR20 tháng 10 giảm 0,38% xuống 238,20 Cent/kg, trong khi kỳ hạn tháng 11 tăng 0,81% lên 237,80 Cent/kg.

Trong nước, giá thu mua cao su tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục ổn định. Bình Long duy trì giá mủ tạp DRC 60% ở mức 18.000 đồng/kg; MangYang thu mua mủ nước khoảng 458 - 463 đồng/TSC; Phú Riềng giữ mủ nước ở mức 420 đồng/TSC. Cao su Bà Rịa duy trì mủ đông DRC ở 14.600 đồng/kg và mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Sắc xanh trên SHFE cho thấy lực mua tại thị trường Trung Quốc vẫn được duy trì, song diễn biến trái chiều tại TOCOM và SGX khiến xu hướng chung chưa rõ ràng. Giá cao su có thể tiếp tục giằng co trong những phiên tới.

Giá tiêu tiếp tục đi ngang

Giá tiêu tại các vùng sản xuất trọng điểm ổn định trong khoảng 137.000 - 141.000 đồng/kg, không ghi nhận điều chỉnh mới.

anh-man-hinh-2026-09-22-luc-08.03.45.png

Trên thị trường quốc tế, tiêu đen Indonesia được niêm yết ở mức 6.886 USD/tấn, Malaysia 9.250 USD/tấn và tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 5.750 USD/tấn.

Giá tiêu đen xuất khẩu Việt Nam tiếp tục dao động 6.070 - 6.130 USD/tấn đối với hai quy cách 500 g/l và 550 g/l. Tiêu trắng Việt Nam duy trì 8.450 USD/tấn.

Thị trường trong nước đang bước vào giai đoạn ổn định sau nhịp giảm 1.000 đồng/kg tại Đắk Lắk trước đó. Khoảng cách 4.000 đồng/kg giữa vùng cao nhất và thấp nhất được duy trì, trong khi thị trường thế giới chưa xuất hiện biến động đủ mạnh để tạo hướng đi mới.

Giá gạo giữ ổn định

Giá gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung đi ngang trong ngày 22/9, trong bối cảnh hoạt động mua bán còn chậm.

Gạo nguyên liệu xuất khẩu CL555 dao động 8.700 - 8.800 đồng/kg; IR504 ở mức 8.700 - 8.750 đồng/kg; OM5451 giữ mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM18 từ 8.700 - 8.850 đồng/kg và Đài Thơm 8 từ 9.200 - 9.400 đồng/kg. OM380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Với phụ phẩm, tấm thơm 3 - 4 giữ mức 8.500 - 8.600 đồng/kg, cám dao động 7.300 - 7.650 đồng/kg.

Tại thị trường bán lẻ, gạo Nàng Nhen có giá cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; Jasmine từ 17.000 - 18.000 đồng/kg; Đài Thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg và OM18 từ 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, gạo thơm 5% tấm Việt Nam giữ mức 440 - 445 USD/tấn; Jasmine 526 - 530 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động 368 - 372 USD/tấn.

Giá gạo nguyên liệu và xuất khẩu chưa xuất hiện biến động mới, cho thấy thị trường vẫn trong trạng thái giằng co. Hoạt động giao dịch chậm có thể khiến giá gạo tiếp tục đi ngang trong những phiên tới nếu nhu cầu mua chưa cải thiện rõ rệt.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Thị trường hàng hóa ngày 22/9: Heo hơi tiếp đà tăng, cao su diễn biến trái chiều
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO