Thị trường hàng hóa tuần qua 14/9 - 20/9: Heo hơi phục hồi, cao su chịu áp lực giảm

Thu Trang | 09:10 20/09/2026

Thị trường hàng hóa tuần từ 14 - 20/9 ghi nhận diễn biến phân hóa. Giá heo hơi miền Bắc phục hồi và lấy lại mốc 60.000 đồng/kg; hồ tiêu giữ mặt bằng cao sau nhịp tăng đầu tuần.

Thị trường hàng hóa tuần qua 14/9 - 20/9: Heo hơi phục hồi, cao su chịu áp lực giảm

Heo hơi lấy lại mốc 60.000 đồng/kg

Thị trường heo hơi tuần qua chuyển từ trạng thái hạ nhiệt sang phục hồi cục bộ, tập trung chủ yếu tại miền Bắc.

Đầu tuần 14/9, giá heo hơi trên cả nước dao động 57.000 - 59.000 đồng/kg, trong đó mốc 60.000 đồng/kg đã hoàn toàn biến mất sau những nhịp giảm trước đó. Miền Bắc phổ biến 58.000 - 59.000 đồng/kg, trong khi miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam chủ yếu quanh 57.000 - 58.000 đồng/kg.

Bước ngoặt xuất hiện từ ngày 16/9 khi Hưng Yên tăng 1.000 đồng/kg lên 60.000 đồng/kg, đưa mốc giá này trở lại thị trường. Sang ngày 17/9, Hà Nội tiếp tục tăng lên 60.000 đồng/kg; đến ngày 19/9, Thái Nguyên trở thành địa phương thứ ba đạt mức này.

Kết tuần, giá heo hơi cả nước dao động 57.000 - 60.000 đồng/kg. Thái Nguyên, Hà Nội và Hưng Yên cùng dẫn đầu với 60.000 đồng/kg; phần lớn địa phương miền Bắc ở 59.000 đồng/kg. Trong khi đó, miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam vẫn phổ biến 57.000 - 58.000 đồng/kg.

4fdf9fac-797c-4147-8ff2-72cf4ebea57d.png

Diễn biến trong tuần cho thấy giá heo hơi đã có tín hiệu phục hồi sau giai đoạn điều chỉnh, nhưng đà tăng chủ yếu tập trung ở miền Bắc. Việc thị trường đồng loạt đi ngang vào cuối tuần cho thấy giá đang tạm thời tìm vùng cân bằng mới quanh 57.000 - 60.000 đồng/kg.

Giá tiêu neo cao, Đắk Lắk giảm nhẹ cuối tuần

Hồ tiêu mở đầu tuần với nhịp tăng mạnh. Ngày 14/9, giá tại các vùng trọng điểm lên 137.000 - 141.000 đồng/kg, cao hơn cuối tuần trước từ 2.000 - 4.000 đồng/kg. Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) dẫn đầu với 141.000 đồng/kg, Đắk Lắk đạt 140.000 đồng/kg.

Sau nhịp tăng, thị trường bước vào chuỗi phiên đi ngang và duy trì mặt bằng mới. Đến ngày 18/9, Đắk Lắk là địa phương duy nhất điều chỉnh giảm 1.000 đồng/kg, xuống 139.000 đồng/kg; các vùng còn lại không thay đổi.

Kết tuần, giá tiêu trong nước vẫn dao động 137.000 - 141.000 đồng/kg. 

Ở thị trường quốc tế, cuối tuần giá tiêu đen Indonesia giảm xuống 6.886 USD/tấn và Malaysia còn 9.250 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l vẫn được chào bán 6.070 - 6.130 USD/tấn.

Dù xuất hiện nhịp giảm cục bộ tại Đắk Lắk, hồ tiêu vẫn là mặt hàng giữ mặt bằng giá khá vững trong tuần. Sau mức tăng 2.000 - 4.000 đồng/kg đầu tuần, vùng 137.000 - 141.000 đồng/kg tiếp tục đóng vai trò mặt bằng giao dịch chủ đạo.

Gạo nguyên liệu tăng giữa tuần rồi quay đầu giảm

Thị trường gạo tuần qua biến động theo từng chủng loại. Ngày 14/9, gạo nguyên liệu CL555 ở mức 8.700 - 8.750 đồng/kg, IR504 đạt 8.650 - 8.700 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg.

Đến giữa tuần, CL555 và IR504 cùng cải thiện. Ngày 17/9, CL555 đạt 8.850 - 8.900 đồng/kg và IR504 lên 8.800 - 8.900 đồng/kg. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu lại hạ nhiệt khi gạo thơm 5% tấm giảm 5 USD/tấn xuống 440 - 445 USD/tấn, Jasmine giảm còn 532 - 536 USD/tấn.

Đà tăng của gạo nguyên liệu không kéo dài. Ngày 19/9, CL555 và IR504 cùng giảm 100 đồng/kg, lần lượt xuống 8.700 - 8.800 đồng/kg và 8.700 - 8.750 đồng/kg. Đến ngày 20/9, hai loại này giữ nguyên mức giá trên.

anh-man-hinh-2026-09-20-luc-08.20.29.png

Ở thị trường xuất khẩu cuối tuần, gạo thơm 5% tấm đứng ở 440 - 445 USD/tấn, Jasmine 526 - 530 USD/tấn và gạo thơm 100% tấm 368 - 372 USD/tấn. So với đầu tuần, Jasmine đã giảm từ mức 534 - 538 USD/tấn.

Giá gạo nguyên liệu đã có nhịp phục hồi giữa tuần nhưng không duy trì được đà tăng, trong khi một số chủng loại xuất khẩu giảm giá. Với giao dịch trong nước chưa sôi động, thị trường có thể tiếp tục phân hóa và dao động trong biên độ hẹp.

Cao su thế giới chịu áp lực giảm, cuối tuần phân hóa

Cao su là mặt hàng có diễn biến kém tích cực trong phần lớn tuần qua. Đầu tuần, giá đã phân hóa khi SHFE và SGX suy yếu, trong khi một số kỳ hạn tại Nhật Bản còn giữ được sắc xanh.

Áp lực bán gia tăng từ ngày 16 - 18/9. Ngày 16/9, cao su tự nhiên tháng 9 trên SHFE giảm 1,16% xuống 17.970 Nhân dân tệ/tấn, trong khi TSR20 tháng 10 tại SGX giảm 2,55% xuống 237 Cent/kg. Sang ngày 17/9, SHFE tiếp tục giảm 1,54 - 1,57%, còn TSR20 trên SGX giảm 0,80 - 1,22%.

Đến cuối tuần, diễn biến có phần phân hóa. Ngày 20/9, hợp đồng cao su tự nhiên tháng 9 trên SHFE tăng 0,59% lên 17.985 Nhân dân tệ/tấn, kỳ hạn tháng 10 tăng 0,61% lên 18.020 Nhân dân tệ/tấn. Ngược lại, TSR20 tháng 10 tại SGX giảm 0,84% xuống 237,10 Cent/kg và tháng 11 giảm 0,21% còn 237,50 Cent/kg.

Trái với biến động trên thị trường quốc tế, giá thu mua cao su trong nước gần như ổn định suốt tuần. Bình Long duy trì mủ tạp DRC 60% ở mức 18.000 đồng/kg; Phú Riềng giữ mủ nước 420 đồng/TSC, trong khi nhiều doanh nghiệp khác cũng chưa điều chỉnh đáng kể.

Cao su thế giới trải qua một tuần chịu áp lực điều chỉnh, đặc biệt tại SHFE và SGX trong các phiên giữa tuần. Nhịp phục hồi tại Thượng Hải cuối tuần chưa đủ để xác lập xu hướng tăng mới, do giá trên các sàn vẫn phân hóa và nhu cầu từ Trung Quốc tiếp tục là yếu tố cần theo dõi.





Bài liên quan

(0) Bình luận
Thị trường hàng hóa tuần qua 14/9 - 20/9: Heo hơi phục hồi, cao su chịu áp lực giảm
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO