Thị trường hàng hóa ngày 19/9: Heo hơi tiếp đà tăng, gạo nguyên liệu quay đầu giảm

Thu Trang | 09:07 19/09/2026

Giá heo hơi miền Bắc tiếp tục nhích lên, đưa thêm Thái Nguyên lên mốc 60.000 đồng/kg; trong khi gạo nguyên liệu CL555 và IR504 cùng giảm.

Thị trường hàng hóa ngày 19/9: Heo hơi tiếp đà tăng, gạo nguyên liệu quay đầu giảm

Giá heo hơi miền Bắc tiếp tục nhích lên

Giá heo hơi ghi nhận thêm một số điều chỉnh tăng tại miền Bắc, trong khi miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam tiếp tục đi ngang. Mặt bằng giá trên cả nước hiện dao động từ 57.000 - 60.000 đồng/kg.

Tại miền Bắc, Thái Nguyên và Điện Biên cùng tăng 1.000 đồng/kg. Sau điều chỉnh, Thái Nguyên lên 60.000 đồng/kg, ngang với Hà Nội và Hưng Yên, trở thành ba địa phương có giá cao nhất cả nước. Điện Biên tăng lên 59.000 đồng/kg.

Lào Cai hiện là địa phương duy nhất tại miền Bắc giữ mức 58.000 đồng/kg; các địa phương còn lại phổ biến ở 59.000 đồng/kg.

Đáng chú ý, mốc 60.000 đồng/kg đang dần mở rộng trở lại. Ngày 16/9, Hưng Yên tăng lên mức này; ngày 17/9 đến lượt Hà Nội và sang phiên 19/9 có thêm Thái Nguyên.

anh-man-hinh-2026-09-19-luc-07.05.22.png
Giá heo hơi miền Bắc ngày 19/09/2026

Tại miền Trung - Tây Nguyên, giá tiếp tục dao động 57.000 - 58.000 đồng/kg. Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đắk Lắk và Lâm Đồng ở mức 58.000 đồng/kg; Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai và Khánh Hòa duy trì 57.000 đồng/kg.

anh-man-hinh-2026-09-19-luc-07.05.34.png
Giá heo hơi miền Trung - Tây Nguyên ngày 19/09/2026

Tại miền Nam, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng ở mức 58.000 đồng/kg. Cà Mau thấp hơn, ở 57.000 đồng/kg.

anh-man-hinh-2026-09-19-luc-07.05.42.png
Giá heo hơi miền Nam ngày 19/09/2026

Những phiên tăng cục bộ liên tiếp cho thấy mặt bằng giá heo hơi miền Bắc đang có dấu hiệu cải thiện. Tuy nhiên, khi hai khu vực còn lại chưa xuất hiện biến động, đà tăng hiện vẫn tập trung chủ yếu ở phía Bắc và cần thêm các phiên để xác định khả năng lan rộng.

Giá gạo CL555 và IR504 cùng giảm

Thị trường gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện điều chỉnh giảm ở một số chủng loại nguyên liệu xuất khẩu.

Cụ thể, gạo nguyên liệu xuất khẩu CL555 giảm 100 đồng/kg, xuống 8.700 - 8.800 đồng/kg. IR504 cũng giảm 100 đồng/kg, còn 8.700 - 8.750 đồng/kg.

Các loại còn lại tương đối ổn định. Gạo nguyên liệu OM5451 dao động 9.300 - 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM18 từ 8.700 - 8.850 đồng/kg. OM380 và Sóc thơm cùng duy trì 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Ở nhóm phụ phẩm, tấm thơm 3 - 4 ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; cám tăng 50 đồng/kg, dao động 7.300 - 7.650 đồng/kg.

Giá gạo bán lẻ nhìn chung ổn định. Gạo Nàng Nhen tiếp tục ở mức cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài và gạo Nhật 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg; Đài Thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg; OM18 từ 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, gạo thơm 5% tấm của Việt Nam dao động 440 - 445 USD/tấn; Jasmine ở mức 526 - 530 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm đạt 368 - 372 USD/tấn.

Việc CL555 và IR504 cùng giảm cho thấy thị trường gạo nguyên liệu đang chịu áp lực nhất định trong bối cảnh giao dịch tại Đồng bằng sông Cửu Long còn chậm. Giá có thể tiếp tục phân hóa theo từng chủng loại, trong khi diễn biến xuất khẩu vẫn là yếu tố đáng chú ý trong những phiên tới.

Giá cao su thế giới tiếp tục ảm đạm

Giá cao su thế giới tiếp tục diễn biến kém tích cực, dù mức biến động giữa các kỳ hạn có sự phân hóa.

Trên sàn TOCOM, hợp đồng RSS3 tháng 9 giảm mạnh 11,09%, xuống 462,60 Yên/kg. Trái lại, kỳ hạn tháng 10 tăng nhẹ 0,09%, đạt 453,40 Yên/kg.

Tại Trung Quốc, cao su tự nhiên trên sàn SHFE kỳ hạn tháng 9 giảm 0,25%, xuống 17.975 Nhân dân tệ/tấn; kỳ hạn tháng 10 giảm 0,06%, còn 17.995 Nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng cao su butadien tháng 10 giảm 1,01%, xuống 14.740 Nhân dân tệ/tấn.

Trên sàn SGX, TSR20 tháng 10 giảm 0,08%, còn 238,60 Cent/kg; kỳ hạn tháng 11 giảm 0,04%, xuống 237,70 Cent/kg.

Trong nước, giá thu mua tiếp tục ổn định. 

19_9-cao-su.jpg
Giá cao su trong nước ngày 19/09/2026

Ngoại trừ cú giảm mạnh ở hợp đồng TOCOM tháng 9, mức giảm tại SHFE và SGX khá hẹp, cho thấy thị trường chủ yếu vẫn trong trạng thái giằng co. Giá cao su thời gian tới có thể tiếp tục chịu tác động từ nhu cầu sản xuất tại Trung Quốc và nguồn cung tại các nước Đông Nam Á.

Giá tiêu đi ngang sau phiên giảm

Giá tiêu trong nước  không ghi nhận biến động mới sau khi Đắk Lắk giảm 1.000 đồng/kg trong phiên trước. Mặt bằng thu mua tiếp tục dao động từ 137.000 - 141.000 đồng/kg.

anh-man-hinh-2026-09-18-luc-07.19.40.png
Giá hồ tiêu trong nước ngày 19/09/2026

Trên thị trường quốc tế, tiêu đen Indonesia được niêm yết ở mức 6.939 USD/tấn, Brazil 5.750 USD/tấn và Malaysia 9.300 USD/tấn. Tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l dao động 6.070 - 6.130 USD/tấn.

Ở nhóm tiêu trắng, Việt Nam ở mức 8.450 USD/tấn, Indonesia 9.500 USD/tấn và Malaysia 12.200 USD/tấn.

Sau nhịp giảm cục bộ tại Đắk Lắk, thị trường tiêu đã trở lại trạng thái ổn định. Mặt bằng 137.000 - 141.000 đồng/kg nhiều khả năng tiếp tục được duy trì nếu chưa xuất hiện thêm lực tác động rõ rệt từ thị trường xuất khẩu.




Bài liên quan

(0) Bình luận
Thị trường hàng hóa ngày 19/9: Heo hơi tiếp đà tăng, gạo nguyên liệu quay đầu giảm
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO