Heo hơi giảm sâu, đáy về 51.000 đồng/kg
Heo hơi là mặt hàng có diễn biến giảm rõ nét nhất trong tuần qua. Đầu tuần, giá trên cả nước phổ biến trong khoảng 54.000 - 56.000 đồng/kg, nhưng liên tục chịu áp lực điều chỉnh trong những phiên sau đó.
Đến ngày 8/10, mức 56.000 đồng/kg đã biến mất, giá toàn quốc lùi về 53.000 - 55.000 đồng/kg. Sang ngày 9/10, đà giảm tiếp tục lan rộng, Khánh Hòa và Đồng Tháp cùng xuống 52.000 đồng/kg.
Áp lực bán tiếp tục gia tăng trong ngày 10/10 khi Nghệ An và Hà Tĩnh giảm xuống 51.000 đồng/kg, trở thành hai địa phương có mức thu mua thấp nhất cả nước.
Kết thúc tuần ngày 11/10, thị trường chưa ghi nhận tín hiệu phục hồi rõ rệt.

Như vậy, chỉ sau một tuần, vùng giá cao của thị trường đã giảm từ 56.000 xuống 54.000 đồng/kg, trong khi vùng giá thấp từ khoảng 54.000 xuống 51.000 đồng/kg.
Đà giảm liên tục cho thấy thị trường heo hơi vẫn chịu áp lực đáng kể từ sức tiêu thụ và nguồn cung xuất chuồng. Khả năng phục hồi trong tuần tới sẽ phụ thuộc vào sức mua và mức độ điều tiết nguồn cung của các trang trại.
Cao su tăng tốc vào cuối tuần

Đầu tuần, cao su quốc tế chủ yếu biến động đan xen. Tại Thái Lan, giá RSS3 xuất khẩu FOB Laem Chabang từ khoảng 95,16 Baht/kg ngày 5/10 tăng lên 95,36 Baht/kg ngày 6/10, 95,91 Baht/kg ngày 7/10 và 96,72 Baht/kg ngày 8/10.
Ngày 9/10, giá tiếp tục nhích lên 96,78 Baht/kg. Đến ngày 10/10, RSS3 Thái Lan đạt 97,51 Baht/kg, cao hơn 2,35 Baht/kg so với đầu tuần.
Đáng chú ý, sau khi Trung Quốc trở lại thị trường, giá cao su trên SHFE bật tăng. Ngày 10/10, hợp đồng tháng 11 tăng 1,85% lên 19.305 Nhân dân tệ/tấn.
Đà tăng mạnh hơn trong dữ liệu cập nhật sáng 11/10. Hợp đồng cao su SHFE tháng 11 đạt 20.170 Nhân dân tệ/tấn, tăng 3,76%; tháng 1/2027 cũng tăng 3,76% lên 20.980 Nhân dân tệ/tấn. Tại Singapore, TSR20 tháng 11 tăng tới 4,36% lên 270,30 Cent/kg, tháng 12 tăng 4,43% lên 269 Cent/kg.
Thị trường Nhật Bản cũng duy trì sắc xanh ở phần lớn kỳ hạn, trong đó hợp đồng tháng 1/2027 tăng 1,23% lên 454 Yên/kg.
Trong nước, giá thu mua mủ tại các doanh nghiệp lớn nhìn chung ổn định trong tuần.
Cao su đã chuyển từ trạng thái phân hóa đầu tuần sang tăng khá đồng thuận vào cuối tuần. Việc thị trường Trung Quốc trở lại cùng diễn biến tích cực trên SHFE và SGX đang tạo lực hỗ trợ đáng kể.
Hồ tiêu giảm rồi trở lại mốc 140.000 đồng/kg
Giá hồ tiêu trong nước trải qua một tuần khá biến động. Đầu tuần, thị trường duy trì mặt bằng khoảng 136.500 - 140.500 đồng/kg, sau đó bước vào nhịp điều chỉnh.
Ngày 8/10, giá đồng loạt giảm 1.000 - 1.500 đồng/kg. Đắk Nông (Lâm Đồng) giảm mạnh nhất 1.500 đồng/kg xuống 139.000 đồng/kg; Đắk Lắk còn 137.500 đồng/kg; Gia Lai và Bình Phước (Đồng Nai) cùng xuống 135.500 đồng/kg.
Sau nhịp giảm, giá duy trì trong khoảng 135.500 - 139.000 đồng/kg đến ngày 10/10.
Bước sang ngày 11/10, thị trường bất ngờ đảo chiều khi tất cả khu vực khảo sát cùng tăng 1.000 đồng/kg.
.png)
Như vậy, dù phục hồi trong phiên cuối tuần, mặt bằng giá vẫn thấp hơn nhẹ so với đầu tuần, khi mức cao nhất từ 140.500 đồng/kg hiện còn 140.000 đồng/kg.
Phiên tăng đồng loạt ngày 11/10 giúp thị trường lấy lại một phần mức giảm giữa tuần và đưa mốc 140.000 đồng/kg xuất hiện trở lại. Tuy nhiên, một phiên tăng chưa đủ xác nhận xu hướng mới. Lực mua của doanh nghiệp, diễn biến xuất khẩu và lượng hàng được đưa ra thị trường sẽ quyết định liệu giá có thể vượt vùng 140.000 đồng/kg trong tuần tới.
Giá gạo duy trì ổn định

So với ba mặt hàng còn lại, gạo có diễn biến ổn định hơn trong tuần 5 - 11/10. Giao dịch tại Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung chậm, trong khi phần lớn mặt hàng nguyên liệu chỉ dao động trong biên độ hẹp.
Cuối tuần, gạo nguyên liệu CL555 duy trì khoảng 8.700 - 8.750 đồng/kg; IR504 ở 8.650 - 8.750 đồng/kg; OM5451 ở 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM18 khoảng 8.700 - 8.850 đồng/kg và Đài Thơm 8 ở 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Một số biến động chủ yếu xuất hiện ở phụ phẩm và thị trường bán lẻ. Ngày 9/10, tấm thơm tăng 100 đồng/kg lên 9.000 - 9.100 đồng/kg, cám tăng 100 đồng/kg lên 7.600 - 7.800 đồng/kg. Trong khi đó, gạo OM18 bán lẻ giảm 500 đồng/kg xuống 15.000 - 16.000 đồng/kg.
Thị trường xuất khẩu ít biến động. Cuối tuần, gạo Jasmine được chào ở 515 - 519 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm 440 - 445 USD/tấn. Các số liệu trong tuần cho thấy giá xuất khẩu nhìn chung thiếu động lực tăng mới.
Thị trường gạo đang ở trạng thái giằng co khi nguồn cung tương đối ổn định nhưng hoạt động thu mua chưa sôi động. Nếu đơn hàng xuất khẩu chưa cải thiện, giá gạo nguyên liệu nhiều khả năng tiếp tục dao động trong biên độ hẹp trong tuần tới.
