20 triệu tấn vàng trong nước biển
Nghiêu cứu công bố trên Tạp chí Scientific Reports vào tháng 7/2026 đã tiết lộ sự thật gây ngạc nhiên. Các miệng phun thủy nhiệt dưới đáy biển tại khu vực núi lửa ngầm Higashi-Aogashima, thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Nhật Bản đã “phun” ra một lượng lớn vàng.
Đây là dạng vàng “vô hình", nằm bên trong pyrit, một loại khoáng vật sulfide gồm sắt và lưu huỳnh. Do có màu vàng ánh kim, pyrit vẫn được gọi là “vàng giả”.
Nghiên cứu từ Đại học Shizuoka, Đại học Waseda và Đại học Tokyo cho rằng, không chỉ mang màu sắc giống vàng, loại khoáng chất này có thể chứa vàng thật với hàm lượng vàng lớn.
Điều đáng nói, khu vực Higashi-Aogashima nằm ở vị trí tương đôi nông so với nhiều mỏ vàng dưới đáy biển khác. Vì vậy, nhiều người dự đoán, nó có thể là mỏ vàng dưới biển được khai thác thương mại ở xứ sở mặt trời mọc.

Không chỉ các nhà khoa học Nhật Bản đang say sưa với trò chơi truy tìm kho báu này. Các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Đại dương GEOMAR Helmholtz Kiel của Đức lựa chọn bắt đầu từ vòng đời đầu tiên của vàng. Vì sao vàng được hình thành từ sâu trong lòng trái đất và tập trung chủ yếu ở vành đai núi lửa?
Các nhà khoa học đã chứng minh, vị trí các mỏ vàng không chỉ được quyết định bởi các quá trình diễn ra gần bề mặt vỏ trái đất. Sự biến đổi của lớp mantle bên dưới các đới hút chìm có vai trò tương tự. Điều này sẽ gợi ý về vị trí của các khó báu dưới đáy đại dương.
Theo số liệu được Hiệp hội Địa lý Quốc gia Mỹ USGS công bố, gần 20 triệu tấn vàng đang tồn tại dưới dạng hòa tan trong nước biển. Trữ lượng nằm trong các mỏ hình thành dưới đáy biển chưa được ước tính.
Hiện mỏ vàng dưới biển lớn nhất được phát hiện nằm ở Trung Quốc, với trữ lượng ước tính 470 tấn đến 1500 tấn vàng. Mỏ vàng nằm ở vị trí cách mặt biển khoảng 2km, tạo cho Trung Quốc những lợi thế nhất định nếu muốn tiến tới khai thác thương mại.
Không chỉ có vàng…
Báo cáo của Viện Xuất bản Kỹ thuật số Đa ngành của Thụy Sĩ năm 2024 cho biết, chỉ riêng khu vực Thái Bình Dương, trữ lượng các khối đa kim loại (còn gọi là nốt mangan) ước tính lên tới 1700 tỷ tấn. Từ trữ lượng này, có thể tách ra khoảng 400 tỷ tấn mangan, 16,4 tỷ tấn niken, 8,8 tỷ tấn đồng và 5,8 tỷ tấn cobalt.
Những con số này đang vượt xa trữ lượng ước tính tại các mỏ trên mặt đất, chẳng hạn, với cobalt, theo USGS, trữ lượng thương phẩm trên toàn cầu chỉ vào khoảng 12 triệu tấn, với niken khoảng 89 triệu tấn.
Dù vậy, khai thác được kho báu dưới biển này vẫn đang là một thách thức lớn. Về công nghệ, một nghiên cứu mới công bố của các nhà khoa học Trung Quốc, khai thác các mỏ khoáng sản dưới biên đòi hỏi hệ thống máy móc, kỹ thuật quy mô lớn và phức tạp.
Tới thời điểm này, các hệ thống được sử dụng gồm: gầu kéo, băng chuyền gầu, tàu con thoi tự hành và hệ thống nâng thông qua đường ống. Phương pháp dùng gầu kéo hiện đã không còn được sử dụng bởi chúng có hiệu quả thấp cùng hệ lụy môi trường lớn.
Phương pháp sử dụng hệ thống nâng thông qua đường ống đang thể hiện nhiều ưu điểm nhất. Đặc biệt, phương pháp này có thể phối hợp với các phương tiện thu gom được vận hành từ xa, mang lại sự linh hoạt cao trong điều kiện di chuyển dưới đáy biển.
Dù vậy, nguy cơ phá hủy môi trường sống của các sinh vật biển sâu, tạo ra tiếng ồn và các cột trầm tích lơ lửng trong nước biển vẫn được nhóm nghiên cứu cảnh báo.
“Kho báu” ở Biển Đông
Ở Việt Nam, “cuộc truy tìm kho báu” dưới đáy Biển Đông hiện đang ở bước nghiên cứu. Quá trình này đã giúp phát hiện dấu hiệu tồn tại của một số loại khoáng sản quan trọng như mangan giàu cobalt, khí hydrate…
Cụ thể, theo nghiên cứu công bố năm 2011, các nhà nghiên cứu đã khảo sát thực địa tại 2 điểm và đã lấy mẫu mangan tại độ sâu 1.000m và 1.900 m. Ngoài ra, các tác giả còn thu thập được một số kết hạch sắt - mangan tại vị trí gần núi lửa Đình Trung khu vực Tây Nam trũng sâu của Biển Đông ở độ sâu 1.300 - 900 m.

Năm 2014, tại thềm lục địa miền Nam Việt Nam, các nhà khoa học đã đã phát hiện kết hạch vỏ sắt - mangan giàu cobalt hàm lượng Mn từ 6-11%, sắt tới 2,3-18%, cobalt 0,18%. Chúng phân bố trên đỉnh và sườn các khối núi lửa ngầm.
Tổng hợp kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế, theo giới chuyên gia, Biển Đông có thể được phân chia thành 4 khu vực sinh khoáng, trong đó khu vực sinh khoáng ở Tây Nam Biển Đông là khu vực có tiềm năng khoáng sản rắn đáy biển.
Nhóm nghiên cứu khuyến nghị, Việt Nam tiến tới phải xây dựng luật, cơ chế, chính sách cho điều tra, thăm dò, khai thác đáy biển. Sau khi đã xây dựng và tiến hành các nghiên cứu về trữ lượng, các phương pháp thăm dò, khai thác, có thể triển khai điều tra, thăm dò khoáng sản rắn đáy biển ở các khu vực có tiềm năng, gần bờ tiến dần tới các khu vực nước sâu, xa bờ khi có điều kiện phù hợp và tích lũy được kinh nghiệm.
