CPI 10 tháng năm 2026 tăng 3,73%
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) toàn tỉnh Lạng Sơn tháng 10/2026 tăng 0,21% so với tháng trước, tăng 4,26% so với cùng kỳ và tăng 3,50% so với tháng 12/2025. Bình quân 10 tháng năm 2026, CPI tăng 3,73% so với cùng kỳ.
Cụ thể, CPI tháng 10/2026 tăng 0,21% so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 04 nhóm tăng giá và 07 nhóm giảm giá. CPI tháng 10 tăng chủ yếu do giá xăng, dầu tăng theo diễn biến thị trường thế giới, khiến nhóm giao thông có mức tăng cao nhất. Trong khi đó, giá thực phẩm giảm 0,67% là yếu tố góp phần hạn chế mức tăng giá tiêu dùng trong tháng.
.png)
CPI tháng 10 tăng 4,26% so với cùng kỳ. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 08 nhóm tăng giá và 03 nhóm giảm giá. Trong đó, nhóm giao thông có mức tăng cao nhất do giá xăng, dầu tăng mạnh; tiếp đến là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng chủ yếu do giá thực phẩm tăng 1,99% và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 5,61%.
Tính chung 10 tháng năm 2026, CPI tăng 3,73% so với cùng kỳ, do các nhóm hàng hóa và dịch vụ đều tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,77%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,59%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,48%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,98%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,90%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,40%; giao thông tăng 8,25%; thông tin và truyền thông tăng 0,37%; giáo dục tăng 0,61%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,38%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,06%.
Tháng 10/2026, chỉ số giá vàng giảm 2,89% so với tháng trước, giảm 4,49% so với cùng kỳ và giảm 6,15% so với tháng 12/2025. Bình quân 10 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 35,35% so với cùng kỳ.
Trong tháng 10/2026, chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,29% so với tháng trước, giảm 1,02% so với cùng kỳ và giảm 1,11% so với tháng 12/2025. Bình quân 10 tháng 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,12% so với cùng kỳ.
IIP 10 tháng tăng 4,86%
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10/2026 tăng 14,75% so với tháng trước. Cụ thể: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 21,72%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,94%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 49,22%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,89%.
So với cùng kỳ, IIP tháng 10 chỉ tăng nhẹ 0,26%, do ngành sản xuất và phân phối điện giảm 17,84% là yếu tố chính ảnh hưởng mức tăng chung của toàn ngành. Bên cạnh đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,74%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,17%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,40%.
Cộng dồn 10 tháng năm 2026, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì xu hướng tăng so với cùng kỳ. IIP dự ước cộng dồn 10 tháng tăng 4,86%, trong đó động lực tăng trưởng chủ yếu là ngành khai khoáng tăng 17,43%, do khai khoáng khác (đá xây dựng) tăng 34,35%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,47%; sản xuất và phân phối điện tăng 4,46%; ngành công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 4,96% so với cùng kỳ.
.png)
Sản lượng một số sản phẩm chủ lực của tỉnh: khai thác than 10 tháng ước đạt 312,19 nghìn tấn, giảm 15,55% so với cùng kỳ. Sản phẩm đá xây dựng các loại ước đạt 5,65 triệu m3, tăng 34,35% so với cùng kỳ, phản ánh nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ các công trình hạ tầng, san lấp mặt bằng tiếp tục tăng cao.
Sản phẩm ván ép từ gỗ và các vật liệu tương tự ước đạt 48,11 nghìn m3, tăng 10,64%, do nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng tại địa phương ổn định. Sản phẩm clanhke xi măng ước đạt 640,03 nghìn tấn, tăng 0,13%; xi măng Portland đen ước đạt 1.213,24 nghìn tấn, tăng 4,16% so với cùng kỳ, trong bối cảnh nhu cầu vật liệu phục vụ hoạt động xây dựng trên địa bàn tiếp tục duy trì. Sản phẩm nước uống được ước đạt 9,52 triệu m3, tăng 5,34%. Sản lượng điện sản xuất 10 tháng ước đạt 651,94 triệu kWh, tăng 3,62%.
