Mới đây, chia sẻ với báo chí về vị thế của doanh nghiệp sau 40 năm đổi mới đất nước, PGS TS Ngô Trí Long cho rằng, những năm qua, vị thế, vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế ngày càng được khẳng định và nâng cao.
Theo đó, doanh nghiệp đã trở thành một chủ thể trung tâm của nền kinh tế thị trường, không chỉ tạo việc làm và đóng góp tăng trưởng mà ngày càng tham gia vào đầu tư, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh quốc tế.
Hiện nay, số doanh nghiệp đang hoạt động đã vượt mốc 1 triệu. Riêng năm 2025, cả nước có 195,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và 102,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường lên 297,5 nghìn.
Quy mô và mức độ hội nhập của nền kinh tế cũng đã thay đổi căn bản. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD. Năm 2025, khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm 22,7% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực FDI chiếm 77,3%.
Tuy nhiên, theo ông Long, chặng đường tiếp theo không thể chỉ là câu chuyện có thêm nhiều doanh nghiệp. Thước đo quan trọng hơn là có bao nhiêu doanh nghiệp đủ lớn, đủ công nghệ, thương hiệu và năng lực để nắm giữ những mắt xích có giá trị cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Bài toán doanh nghiệp “nhỏ lâu và không lớn lên được”
Theo PGS TS Ngô Trí Long, không nên nhìn vấn đề đơn giản là doanh nghiệp Việt Nam thiếu vốn. Vốn quan trọng, nhưng nút thắt sâu hơn là năng lực biến nguồn lực thành năng suất, công nghệ, quản trị, tài sản trí tuệ và giá trị gia tăng.
.jpg)
Cụ thể, hiện có khoảng 98% doanh nghiệp đang hoạt động là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quy mô nhỏ kéo theo hàng loạt hạn chế: khó đầu tư R&D dài hạn, khó thu hút nhân lực chất lượng cao, khó đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, sức chống chịu trước cú sốc yếu và vị thế đàm phán trong chuỗi cung ứng thấp.
Theo đó, ông Long cho rằng, điều đáng lưu ý nhất hiện nay là nhỏ không đáng lo bằng nhỏ lâu và không lớn lên được. Một nền kinh tế khỏe phải có cơ chế để doanh nghiệp khởi nghiệp, tích lũy, mở rộng quy mô rồi hình thành lớp doanh nghiệp vừa và lớn.
“Nếu hàng triệu doanh nghiệp đều quanh quẩn ở quy mô nhỏ, cạnh tranh bằng chi phí thấp và gia công thì số lượng tăng rất nhanh nhưng năng lực quốc gia không tăng tương ứng. Khoảng cách này thể hiện rõ trong thương mại quốc tế. World Bank cho biết, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước Việt Nam có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu đã giảm từ 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023”, PGS TS Ngô Trí Long nhấn mạnh.
Một điểm nghẽn khác cũng được PGS TS Ngô Trí Long chỉ ra là chất lượng nguồn nhân lực. Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt 29,2%. Trong khi đó, cạnh tranh đang chuyển nhanh từ lợi thế lao động giá rẻ sang kỹ sư, dữ liệu, AI, tự động hóa, thiết kế sản phẩm, quản trị chuỗi cung ứng và sở hữu trí tuệ.
Do đó, ông Long cho rằng cần thay đổi cách đo thành công của chính sách phát triển doanh nghiệp. Không chỉ hỏi mỗi năm có bao nhiêu doanh nghiệp thành lập mới, mà phải hỏi có bao nhiêu doanh nghiệp từ nhỏ trở thành vừa, từ vừa trở thành lớn; bao nhiêu doanh nghiệp trở thành nhà cung cấp cho các tập đoàn toàn cầu; và tỷ lệ giá trị Việt Nam tạo ra trong một sản phẩm xuất khẩu tăng được bao nhiêu.
“Nút thắt lớn nhất, xét đến cùng, là doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu năng lực để đi từ làm ra sản phẩm sang làm chủ giá trị của sản phẩm”, PGS TS Ngô Trí Long nhận định.
Thể chế cần là bệ đỡ, doanh nghiệp cũng cần chủ động
Theo PGS TS Ngô Trí Long, hiện nay cần xác định rõ: Nhà nước kiến tạo môi trường và chia sẻ một phần rủi ro phát triển, còn doanh nghiệp phải là chủ thể quyết định năng lực cạnh tranh của mình.
“Nhà nước trước hết phải tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo. Vai trò của Nhà nước cũng là tạo những hạ tầng mà doanh nghiệp riêng lẻ khó tự xây dựng, như logistics, dữ liệu, tiêu chuẩn – kiểm định, R&D, sở hữu trí tuệ, thị trường vốn và xúc tiến thương mại quốc tế.
Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân đã đặt ra khá rõ định hướng này. Nghị quyết yêu cầu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, trong đó đặt mục tiêu giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, 30% chi phí tuân thủ pháp luật và 30% điều kiện kinh doanh. Đây là những cải cách có ý nghĩa trực tiếp với khả năng tích lũy và mở rộng của doanh nghiệp”, PGS TS Ngô Trí Long đánh giá.
Làm rõ hơn đánh giá trên, ông Long dẫn chứng, Nghị quyết 198 đã có những cơ chế hỗ trợ trực tiếp cho quá trình nâng cấp doanh nghiệp. Doanh nghiệp được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chi phí nghiên cứu và phát triển còn được tính vào chi phí được trừ ở mức 200% chi phí thực tế theo quy định. Nghị quyết đồng thời đặt ra Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiêu biểu, tiên phong và Chương trình “Go Global” nhằm hỗ trợ doanh nghiệp về thị trường, vốn, công nghệ, thương hiệu, logistics, pháp lý, M&A và kết nối với các tập đoàn đa quốc gia.
Đáng chú ý, theo PGS TS Ngô Trí Long, những định hướng hỗ trợ chính sách nói trên là cần thiết, nhưng đó chỉ là “bệ đỡ”, còn năng lực cạnh tranh phải do doanh nghiệp tự hình thành. Muốn lớn lên và đi ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp trước hết phải thay đổi về quản trị, minh bạch tài chính, quản trị rủi ro và phát triển nhân lực. Đồng thời, đầu tư cho công nghệ cũng phải chuyển từ việc đơn thuần mua máy móc sang từng bước làm chủ công nghệ, dữ liệu, thiết kế và sở hữu trí tuệ.
“Một vấn đề khác là thương hiệu. Nếu doanh nghiệp chủ yếu sản xuất theo thiết kế, thương hiệu hoặc hệ thống phân phối của đối tác nước ngoài thì phần giá trị giữ lại sẽ hạn chế. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “sản xuất để xuất khẩu” sang xây dựng sản phẩm, thương hiệu và thị trường của chính mình”, PGS TS Ngô Trí Long nhấn mạnh thêm.
