Thị trường hàng hóa tháng qua 1/10-1/11: Heo hơi lao dốc, gạo xuất khẩu tăng mạnh cuối tháng

Thu Trang | 08:40 01/11/2026

Khép lại tháng 10/2026, thị trường hàng hóa ghi nhận những diễn biến trái chiều. Giá heo hơi liên tục giảm, lùi xuống mức 43.000 đồng/kg tại nhiều địa phương. Ngược lại, gạo xuất khẩu Việt Nam tăng mạnh trong những ngày cuối tháng.

Thị trường hàng hóa tháng qua 1/10-1/11: Heo hơi lao dốc, gạo xuất khẩu tăng mạnh cuối tháng

Heo hơi lao dốc, mất hơn 10.000 đồng/kg

Heo hơi là mặt hàng ghi nhận đà giảm rõ nét nhất trong tháng 10. Từ mức 56.000 – 58.000 đồng/kg ngày 1/10, giá thu mua liên tục đi xuống và kết thúc tháng ở vùng 43.000 – 46.000 đồng/kg. Như vậy, cả mức giá thấp nhất và cao nhất của khung giá toàn quốc đều giảm khoảng 12.000 đồng/kg.

Đà giảm xuất hiện ngay từ những ngày đầu tháng. Đến ngày 4/10, giá heo hơi trên cả nước còn 54.000 – 56.000 đồng/kg. Một tuần sau, mức thấp nhất tiếp tục lùi về 51.000 đồng/kg, trong khi mức cao nhất chỉ còn 54.000 đồng/kg.

Giữa tháng, thị trường xuất hiện một số phiên tăng cục bộ nhưng không duy trì được lâu. Ngày 18/10, giá heo hơi giảm về 50.000 – 53.000 đồng/kg. Đến ngày 25/10, khung giá tiếp tục thu hẹp xuống 45.000 – 50.000 đồng/kg.

Trong những phiên cuối tháng, mốc 50.000 đồng/kg biến mất khỏi thị trường. Ngày 31/10, giá thu mua trên cả nước chỉ còn 43.000 – 46.000 đồng/kg, với nhiều địa phương miền Trung – Tây Nguyên giao dịch ở mức thấp nhất.

tai-xuong.png
Biến động giá heo hơi trong nước từ 1/10/2026-1/11/2026 (Nguồn Tổng hợp)

Bước sang ngày 1/11, đà giảm có dấu hiệu chậm lại khi phần lớn địa phương giữ giá, chỉ một số tỉnh miền Bắc và miền Trung – Tây Nguyên tiếp tục điều chỉnh. Giá heo hơi cả nước vẫn dao động trong khoảng 43.000 – 46.000 đồng/kg.

Tháng 10 đánh dấu giai đoạn điều chỉnh mạnh của thị trường heo hơi, với mặt bằng giá liên tục thiết lập các mức thấp mới. Việc nhiều địa phương ngừng giảm trong phiên đầu tháng 11 là tín hiệu ổn định bước đầu, nhưng chưa đủ cơ sở khẳng định thị trường đã đảo chiều phục hồi.

Gạo xuất khẩu bật tăng mạnh vào cuối tháng

Trái chiều với heo hơi, thị trường gạo Việt Nam ghi nhận diễn biến tích cực hơn trong tháng 10, đặc biệt ở phân khúc xuất khẩu.

Đầu tháng, giá gạo xuất khẩu tương đối ổn định. Gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 440 – 445 USD/tấn, gạo Jasmine đạt 515 – 519 USD/tấn và gạo thơm 100% tấm ở mức 371 – 375 USD/tấn. Mặt bằng này gần như được duy trì trong nửa đầu tháng.

Bước ngoặt xuất hiện từ ngày 22/10, khi giá gạo thơm 5% tấm tăng lên 470 – 475 USD/tấn, trong khi Jasmine đạt 518 – 522 USD/tấn.

Đà tăng tiếp tục rõ nét vào cuối tháng. Ngày 30/10, gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 500 – 515 USD/tấn; Jasmine đạt 535 – 539 USD/tấn và gạo thơm 100% tấm lên 390 – 394 USD/tấn.

tai-xuong-1-.png
Giá gạo xuất khẩu so sánh đầu tháng 10 và ngày 1/11/2026 (Nguồn Tổng hợp)

Đến ngày 1/11, các mức giá này được duy trì. So với đầu tháng 10, gạo thơm 5% tấm tăng khoảng 60 – 70 USD/tấn, Jasmine tăng 20 USD/tấn và gạo thơm 100% tấm tăng 19 USD/tấn, xét theo các đầu mút của khoảng giá được công bố.

Tại thị trường trong nước, một số loại gạo nguyên liệu cũng cải thiện. Đầu tháng, gạo IR 504 phổ biến 8.700 – 8.800 đồng/kg, CL 555 ở mức 8.750 – 8.850 đồng/kg. Đến cuối tháng, hai loại gạo này lần lượt đạt 9.050 – 9.200 đồng/kg và 9.000 – 9.200 đồng/kg. Trong khi đó, OM 5451 duy trì quanh 9.300 – 9.400 đồng/kg.

Giá gạo xuất khẩu tăng rõ rệt trong nửa cuối tháng 10, nổi bật ở nhóm gạo thơm. Tuy nhiên, mức tăng không đồng đều giữa các chủng loại và thị trường nội địa vẫn ghi nhận giao dịch chậm. Khả năng duy trì mặt bằng giá mới sẽ phụ thuộc vào diễn biến đơn hàng xuất khẩu và hoạt động thu mua thời gian tới.

Hồ tiêu đảo chiều, mất mốc 140.000 đồng/kg

Thị trường hồ tiêu trải qua nhiều nhịp tăng, giảm trong tháng 10 trước khi chuyển sang xu hướng đi xuống vào những phiên cuối cùng.

Ngày 1/10, giá tiêu trong nước dao động từ 136.500 – 140.500 đồng/kg, sau khi các vùng sản xuất trọng điểm đồng loạt tăng 500 đồng/kg.

Tuy nhiên, đến ngày 8/10, giá giảm 1.000 – 1.500 đồng/kg tại nhiều địa phương, đưa mặt bằng xuống 135.500 – 139.000 đồng/kg. Thị trường sau đó phục hồi vào ngày 11/10, khi các khu vực khảo sát cùng tăng 1.000 đồng/kg, đưa giá cao nhất trở lại 140.000 đồng/kg.

Trong giai đoạn giữa và cuối tháng, giá tiêu chủ yếu dao động quanh 137.000 – 140.000 đồng/kg. Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông cũ nhiều lần ghi nhận mức thu mua cao nhất.

Đáng chú ý, ngày 31/10, giá tiêu đồng loạt giảm 1.000 – 1.500 đồng/kg, khiến mốc 140.000 đồng/kg không còn xuất hiện. Giá tại Đắk Lắk xuống 138.500 đồng/kg, Đắk Nông còn 137.500 đồng/kg, trong khi Gia Lai và khu vực Bình Phước giảm về 136.000 đồng/kg.

anh-man-hinh-2026-11-01-luc-08.11.25.png
Biến động giá hồ tiêu trong nước từ 1/10/2026 - 1/11/2026 (Nguồn Tổng hợp)

Sang ngày 1/11, thị trường tiếp tục giảm thêm 1.000 đồng/kg tại các vùng khảo sát. Giá tiêu cả nước còn 135.000 – 137.500 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l từ mức 5.970 USD/tấn đầu tháng giảm còn 5.950 USD/tấn vào đầu tháng 11; loại 550 g/l từ 6.075 USD/tấn xuống 5.995 USD/tấn.

Hồ tiêu không duy trì được nhịp phục hồi giữa tháng và kết thúc tháng 10 trong trạng thái suy yếu. Đà giảm tiếp diễn ngày 1/11 cho thấy thị trường chưa có tín hiệu phục hồi rõ ràng. Diễn biến tiếp theo cần được theo dõi qua nhu cầu thu mua và giá xuất khẩu tại các thị trường lớn.

Cao su biến động mạnh, suy yếu vào cuối tháng

Khác với xu hướng giảm kéo dài của heo hơi, giá cao su thế giới liên tục đảo chiều trong tháng 10, với những phiên tăng mạnh xen kẽ các đợt điều chỉnh.

Đầu tháng, thị trường ghi nhận đà tăng đáng kể. Ngày 2/10, các hợp đồng cao su trên sàn Thượng Hải (SHFE) tăng gần 6%, trong khi giá cao su TSR20 tại Singapore tăng hơn 3%.

Đà tăng tiếp tục xuất hiện sau kỳ nghỉ Quốc khánh Trung Quốc. Đến ngày 11/10, hợp đồng cao su tự nhiên tháng 11 trên SHFE đạt 20.170 Nhân dân tệ/tấn, còn hợp đồng TSR20 cùng kỳ hạn trên sàn Singapore (SGX) lên 270,30 Cent/kg.

Tuy nhiên, thị trường nhanh chóng đảo chiều. Ngày 16/10, hợp đồng tháng 11 trên SHFE giảm về 18.890 Nhân dân tệ/tấn, trong khi SGX lùi xuống 252 Cent/kg.

Sau giai đoạn biến động đan xen, áp lực giảm tiếp tục chiếm ưu thế trong những phiên cuối tháng. Ngày 31/10, hợp đồng tháng 11 trên SHFE còn 18.500 Nhân dân tệ/tấn, giảm 2,15% trong phiên; SGX xuống 249,60 Cent/kg, giảm 2,27%.

tai-xuong-2-.png
Biến động giá hợp đồng cao su tự nhiên kỳ hạn tháng 11 trên sàn SHFE trong tháng 10 (Nguồn Tổng hợp)

Theo dữ liệu cập nhật ngày 1/11, hợp đồng tháng 11 trên SHFE tiếp tục giảm về 18.385 Nhân dân tệ/tấn, thấp hơn 1.785 Nhân dân tệ/tấn, tương đương khoảng 8,9% so với mức ghi nhận ngày 11/10. Trên SGX, hợp đồng TSR20 tháng 11 cũng giảm từ 270,30 xuống 247 Cent/kg trong cùng khoảng thời gian đối chiếu.

Trong khi thị trường kỳ hạn biến động mạnh, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp trong nước nhìn chung ổn định. Bình Long duy trì mức 540 đồng/độ TSC/kg tại nhà máy, Phú Riềng thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/TSC và MangYang dao động 458 – 463 đồng/TSC.

Cao su là mặt hàng có nhiều nhịp đảo chiều trong tháng 10. Đà tăng đầu tháng không được duy trì, trong khi các sàn giao dịch lớn đồng loạt suy yếu vào cuối kỳ. Triển vọng tháng 11 tiếp tục phụ thuộc vào nhu cầu nguyên liệu, diễn biến giao dịch tại Trung Quốc và nguồn cung từ các nước sản xuất cao su lớn.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Thị trường hàng hóa tháng qua 1/10-1/11: Heo hơi lao dốc, gạo xuất khẩu tăng mạnh cuối tháng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO