Tổng thống Vladimir Putin nhiều lần nhắc đến tỷ lệ thất nghiệp thấp của Nga, hiện vào khoảng 2,2%, thuộc nhóm thấp nhất thế giới. Nhưng phía sau con số tưởng như tích cực đó lại là một thực tế đáng lo: thị trường lao động gần như không còn dư địa mở rộng.
Phó thủ tướng Alexander Novak mới đây thừa nhận việc làm ở Nga đã đạt “mức đỉnh”, với rất ít nguồn lao động nhàn rỗi còn lại. Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nga Elvira Nabiullina cũng cảnh báo nước Nga hiện đại chưa từng đối mặt tình trạng thiếu nhân công gay gắt đến như vậy.
Theo ước tính, Nga hiện thiếu khoảng 1,5 triệu lao động để đưa thị trường việc làm trở lại trạng thái cân bằng. Giới doanh nghiệp Nga còn bi quan hơn. Liên minh các nhà công nghiệp và doanh nhân Nga dự báo mức thiếu hụt có thể lên tới 3 triệu người trong giai đoạn từ nay đến năm 2030.
Xung đột tại Ukraine đã làm tình hình thêm trầm trọng. Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tại Washington ước tính Nga đã chịu khoảng 1,2 triệu thương vong kể từ đầu chiến sự.
Giới chuyên gia cho rằng cuộc xung đột càng làm trầm trọng thêm một vấn đề vốn đã âm ỉ từ trước. Nguyên nhân gốc rễ nằm ở nhân khẩu học.
Trước cả khi xung đột nổ ra, dân số trong độ tuổi lao động của Nga đã giảm khoảng 4,9 triệu người trong giai đoạn 2015-2022. Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động giảm liên tục từ năm 2010 và hiện chỉ còn khoảng 74 triệu người, theo dữ liệu Bộ Lao động Nga được các tổ chức quốc tế trích dẫn. Đây là hệ quả kéo dài của đợt sụt giảm sinh mạnh trong thập niên 1990, thời kỳ Nga rơi vào khủng hoảng sau khi Liên Xô tan rã.
Việc nâng tuổi nghỉ hưu từ năm 2019 giúp Nga phần nào giữ người lao động ở lại thị trường lâu hơn, nhưng đồng thời cũng khiến lực lượng lao động già đi rõ rệt. Tỷ lệ nhân sự từ 55 tuổi trở lên tăng lên, trong khi nhóm từ 25 đến 39 tuổi giảm mạnh.
Theo các nhà nhân khẩu học Nga, số lao động trẻ trong nhóm tuổi này đã giảm tới khoảng 4 triệu người. Điều đó đồng nghĩa trong những năm tới, Nga vẫn sẽ phải đối mặt với làn sóng nghỉ hưu tiếp theo nhưng lại không có đủ người trẻ để thay thế.
Ngoài yếu tố dân số, di cư cũng làm tình hình xấu thêm. Dữ liệu chính xác về số người rời Nga sau năm 2022 không nhiều, nhưng một số chuyên gia ước tính làn sóng di cư từ khi chiến sự bùng phát đã làm giảm lực lượng lao động thêm khoảng 300.000-400.000 người.
Một phần tổn thất có thể được bù lại bởi khoảng 100.000-200.000 lao động đến từ các vùng lãnh thổ Ukraine do Nga kiểm soát, nhưng mức này lại rất hạn chế. Cùng lúc, số lao động nhập cư tạm thời tại Nga được cho là đã giảm khoảng 1 triệu người so với đầu năm 2022, trong bối cảnh chính sách nhập cư ngày càng chặt chẽ.
Một yếu tố khác là quân đội và tổ hợp công nghiệp quốc phòng đang hút mạnh nhân lực khỏi khu vực dân sự. Ước tính có khoảng 700.000-900.000 người đã được kéo ra khỏi thị trường lao động để phục vụ chiến sự, dù không phải ai cũng từng có kinh nghiệm làm việc ổn định trước đó.
Điều này khiến doanh nghiệp dân sự ngày càng khó tuyển người, đặc biệt trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin, bán hàng, kế toán và các ngành kỹ thuật. Reuters từng đưa tin tình trạng thiếu lao động tại Nga đã lan rộng sang xây dựng, nông nghiệp, vận tải, y tế và cả khu vực hành chính công.
Hệ quả kinh tế đang ngày càng rõ. Thiếu lao động khiến cả khu vực quốc phòng lẫn khu vực dân sự bị hạn chế sản lượng. Tiền lương tăng nhanh hơn năng suất, làm cuộc chiến chống lạm phát của Ngân hàng Trung ương Nga thêm khó khăn. Dù kinh tế chậm lại, thất nghiệp nhiều khả năng vẫn không tăng đáng kể, bởi vấn đề của Nga hiện không phải thiếu việc làm mà là thiếu người đi làm.
Chính phủ Nga đang tìm cách ứng phó bằng cách thúc đẩy năng suất lao động, tăng giờ làm, kéo thêm lao động lớn tuổi và lao động trẻ vào thị trường. Trong thập niên tới, Nga có thể tạm thời được “giảm áp” khi một thế hệ đông hơn bước vào tuổi lao động, thành quả từ các chính sách khuyến sinh đầu những năm 2000.
Dẫu vậy, hiệu ứng này chỉ mang tính ngắn hạn. Tỷ suất sinh của Nga trong vài năm gần đây lại giảm về mức thấp như cuối thập niên 1990 và đầu những năm 2000, trong khi dân số vẫn tiếp tục già đi.
Theo Reuters, CSIS
