Cuộc đua lãi suất vẫn đang tiếp diễn
Theo khảo sát của MarketTimes, biểu lãi suất niêm yết của các ngân hàng ngày 26/7 cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động gần như không có biến động lớn so với những ngày đầu tháng. Tuy nhiên, sự phân hóa giữa mức lãi suất ở các ngân hàng vẫn khá rõ.
Ở kỳ hạn 6 tháng, ACB đang dẫn đầu với mức 7,6%/năm. Theo sau là Bac A Bank với 7,05%/năm; MBV và VCBNeo cùng niêm yết 7%/năm...
Nhóm ngân hàng thương mại nhà nước gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng áp dụng mức 6,6%/năm. Trong khi đó, Techcombank niêm yết 6,55%/năm; Nam A Bank và Sacombank cùng 6,4%/năm; MSB 6,3%; ABBank 6,25%; NCB và SHB 6,2%; TPBank 6,05%/năm...
Tuy nhiên, theo khảo sát thực tế, mức lãi suất huy động mà khách hàng nhận được lại cao hơn đáng kể so với bảng niêm yết. Thông qua các chương trình ưu đãi, gửi trực tuyến hoặc chính sách dành cho từng nhóm khách hàng, nhiều ngân hàng cộng thêm từ 1,5-2,5%/năm.
Với khoản tiền gửi khoảng 100 triệu đồng kỳ hạn 6 tháng, khách hàng tại VPBank có thể nhận lãi suất tới 8,5%/năm; tại BIDV nhận khoảng 8%/năm; TPBank 8,6%/năm; MBV 8,75%/năm; GPBank 8,8%/năm. Đáng chú ý, VikkiBank đang chào mức lãi suất trên 9%/năm, HDBank triển khai mức 9,05%.... cho cùng kỳ hạn.
Trong khi đó, số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước về mặt bằng lãi suất tiền gửi bình quân trong tháng 6 vẫn cho thấy mức thấp hơn đáng kể. Cụ thể, tiền gửi kỳ hạn từ 6-12 tháng phổ biến trong khoảng 6,1-7,6%/năm; kỳ hạn trên 12 đến 24 tháng ở mức 5,9-7,3%/năm và trên 24 tháng khoảng 7,1-7,8%/năm.
Khoảng cách giữa lãi suất huy động được niêm yết và lãi suất thực tế cho thấy cuộc cạnh tranh huy động vốn giữa các ngân hàng đang diễn ra quyết liệt hơn so với những gì thể hiện trên bảng công bố chính thức.
Nhu cầu huy động vốn tiếp tục tăng
Tại một cuộc Hội thảo về “Thử thách khả năng chống chịu trước biến độ vĩ mô và áp lực huy động vốn gia tăng” do VIS Rating tổ chức, ông Phan Quốc Bửu - Giám đốc Trung tâm phân tích Nghiên cứu, Công ty cổ phần chứng khoán BIDV (BSC) cho rằng, lãi suất nhiều khả năng tại thời điểm hiện tại đã tiệm cận đỉnh và sự ổn định là phần lớn. Mặc dù vậy, dư địa để giảm mạnh là thực sự không lớn; lãi suất có khả năng sẽ đi ngang hoặc tăng nhẹ. Điều này sẽ tạo áp lực lên chi phí vốn đầu vào và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp.
Theo phân tích của ông Bửu, nguyên nhân khiến lãi suất tăng thời gian qua là tình trạng mất cân đối giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn; chênh lệch dư nợ tín dụng và tiền gửi hiện tại đang ở mức 2,6 triệu tỷ đồng.
“Chúng tôi kỳ vọng thanh khoản hệ thống sẽ cải thiện vào cuối năm nhờ các chính sách hỗ trợ như Thông tư 06 hay Nghị quyết 168, và đặc biệt là việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công vốn đang còn tồn đọng lớn tại Kho bạc”, ông Bửu nói.
Ông Bửu cho biết, với quyết tâm của Chính phủ, việc đẩy mạnh đầu tư công sẽ góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, dòng vốn tín dụng sẽ không phân bổ dàn trải mà tập trung có chọn lọc vào các lĩnh vực ưu tiên như hạ tầng, sản xuất kinh doanh và các ngành tạo động lực tăng trưởng.
Phân tích về những thay đổi này tác động đến nguồn vốn và thanh khoản hệ thống cuối năm 2026, ông Nguyễn Đức Huy, CFA – Trưởng nhóm phân tích VIS Rating cho hay, trong tháng 6, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra hai chính sách quan trọng: Nâng giới hạn tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn (SMLR) từ 30% lên 40%, đồng thời miễn trừ một số khoản vay hạ tầng trọng điểm khỏi giới hạn tăng trưởng tín dụng. Điều này tạo không gian cho các ngân hàng mở rộng tín dụng, đặc biệt là lĩnh vực bất động sản. Tuy nhiên, việc nâng trần này cũng làm tăng rủi ro đối với hồ sơ tín nhiệm của các ngân hàng. Với quy mô vốn đầu tư hạ tầng ước tính 752.000 tỷ đồng giai đoạn 2026–2033, nhu cầu huy động vốn sẽ tiếp tục tăng.
Các ngân hàng sẽ phải phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn thị trường ngắn hạn vốn kém ổn định, làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn và rủi ro tái cấp vốn. Trong bối cảnh tăng trưởng tiền gửi toàn ngành còn thấp, rủi ro thanh khoản sẽ tăng lên, đặc biệt là với các ngân hàng đang tiếp cận ngưỡng giới hạn 30% trước đây nếu tiếp tục đẩy mạnh cho vay bất động sản.
Để giải quyết vấn đề này, Ngân hàng Nhà nước đang từng bước áp dụng các tiêu chuẩn mới bắt đầu từ năm 2028 nhằm khuyến khích nguồn vốn ổn định từ tiền gửi khách hàng. Trong giai đoạn chuyển tiếp, các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào tiền gửi doanh nghiệp sẽ đối mặt với thách thức lớn, trong khi các ngân hàng có cấu trúc tiền gửi cá nhân đa dạng sẽ có lợi thế hơn. Cạnh tranh huy động tiền gửi sẽ gia tăng, khiến chi phí vốn duy trì ở mức cao và gây áp lực lên biên lãi ròng (NIM) trong ngắn hạn.
Dự báo về chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế, ông theo ông Phan Quốc Bửu, hiện các yếu tố xung đột địa chính trị (như căng thẳng Mỹ - Iran) đang gây áp lực lên giá dầu, tạo thách thức cho điều hành chính sách tiền tệ. Ngoài ra, rủi ro từ việc Mỹ có thể áp thuế quan 12,5% đối với Việt Nam sau ngày 24/7 cũng là một ẩn số lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu.
Tại thị trường trong nước, mục tiêu tăng trưởng sẽ dựa vào đầu tư công kết hợp chính sách tài khóa linh hoạt như giảm thuế VAT, giãn hoãn thuế. Tình hình giải ngân đầu tư công tại Hà Nội tính đến 09/07/2026 đạt 52% kế hoạch, cao hơn mức bình quân cả nước (36,3%), cho thấy hiệu quả từ các luật và nghị quyết mới.
“Đối với thị trường chứng khoán, chúng tôi kỳ vọng sự tích cực hơn vào tháng 9 khi nhà đầu tư nước ngoài có thể quay lại mua ròng do định giá đang ở mức hấp dẫn”, ông Phan Quốc Bửu nhấn mạnh.
