“Vụ án sầu riêng”, Thứ trưởng vướng lao lý: Ai sầu hơn ai?

Hoàng Hạnh | 00:44 03/08/2026

“Vụ án sầu riêng” là cuộc trả giá đắt nhưng cũng là cơ hội xây dựng nền tảng quản trị theo hướng minh bạch cho các loại nông sản xuất khẩu.

“Vụ án sầu riêng”, Thứ trưởng vướng lao lý: Ai sầu hơn ai?
Lùm xùm mã số vùng trồng ảnh hưởng không tốt tới sầu riêng Việt. Ảnh Internet

Cái tên đã vận vào “trái sầu”, chỉ có điều, đó là mối sầu chung. Một vị Thứ trưởng vướng lao lý vì chỉ đạo cấp dưới cấp khống giấy kiểm nghiệm, mã số vùng trồng, mua bán giấy phép mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Rất nhiều cán bộ liên quan sẽ chịu sự phán xét của pháp luật.

Dù sớm hay muộn, họ sẽ phải đối diện toà án lương tâm. Mã số vùng trồng là "tấm hộ chiếu" cho nông sản Việt xuất ngoại. Khi chính người gác cổng mở cổng cho gian lận, không chỉ là chuyện những lô hàng bị cảnh báo, niềm tin của hàng triệu nông hộ vào công cụ dựng ra để bảo vệ họ cũng bị tổn thất.

Mang tâm tư nặng trĩu, chuyên gia kinh tế nông nghiệp, TS. Trần Hữu Hiệp, nguyên Ủy viên Chuyên trách, Vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã dành cho phóng viên một cuộc trao đổi ngắn, nhằm chỉ ra căn nguyên của sự việc nêu trên và các giải pháp khiến “người muốn làm sai” không thể làm sai.

hiep_2024.jpg
Chuyên gia kinh tế nông nghiệp, TS. Trần Hữu Hiệp, nguyên Ủy viên Chuyên trách, Vụ trưởng Vụ Kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ

Minh bạch là “vắc-xin”

PV: Thưa ông, tâm trạng của ông đã tốt hơn chưa? Thật không ngờ quan chức quản lý ngành lại tổ chức và tiếp tay cho gian dối gây liên luỵ tới ngành sầu riêng…

TS. Trần Hữu Hiệp: Điều tôi trăn trở nhất không phải là có sai phạm, mà là sự trục lợi chính sách, quyền hạn được giao của một bộ phận cán bộ liên quan một ngành hàng ảnh hưởng đến đông đảo nông dân, nhà vườn và doanh nghiệp.

Tôi vẫn còn bức xúc. Tuy nhiên, tôi kỳ vọng đây sẽ là cú hích buộc toàn ngành cải tổ tận gốc, thay vì chỉ xử lý phần ngọn.

PV: Nhiều người nhận định, quy trình cấp mã số vùng trồng hiện tại không có vấn đề lớn. Chỉ có điều, khi một mắt xích cố tình làm sai, uy tín của cả một ngành hàng bị liên lụy. Điều này có thể khắc phục không, thưa ông?

TS. Trần Hữu Hiệp: Tôi đồng ý một phần ý kiến này. Bản thân chứng nhận mã số vùng trồng sầu riêng chỉ là công cụ quản lý mang tính tiêu chuẩn, kỹ thuật, cần thiết để “chứng nhận niềm tin” cho các quốc gia, nhà nhập khẩu.

Một khi nó bị biến thành “giấy phép con” quyền lực để loại “trái cây vua” xuất ngoại, mà loại giấy phép đó bị biến thành mảnh đất màu mỡ để trục lợi thì vấn đề nảy sinh.

Vậy nên, trước hết, phải số hóa toàn bộ quy trình từ đăng ký, thẩm định, cấp mới đến thu hồi mã số. Mỗi hồ sơ cần có thời hạn xử lý rõ ràng, trạng thái cập nhật theo thời gian thực để người dân và doanh nghiệp giám sát trực tuyến. Khi mọi công đoạn đều lưu lại "dấu vết số", cơ hội can thiệp trái phép sẽ bị loại bỏ.

Cùng với đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất về vùng trồng, kết nối giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, địa phương, cơ quan kiểm dịch và hải quan.

Công khai danh sách mã số, diện tích, tình trạng hiệu lực sẽ giúp hiệp hội và xã hội cùng tham gia giám sát. Minh bạch là "vắc-xin" hiệu quả nhất chống tiêu cực. Các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) và Big Data cũng cần được ứng dụng để cảnh báo bất thường, bao gồm cả tình trạng sản lượng xuất khẩu vượt xa năng lực thực tế.

Cuối cùng, cần hoàn thiện cơ chế phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình. Địa phương nắm rõ hiện trạng vùng trồng nhưng phân cấp phải đi đôi với hậu kiểm nghiêm ngặt. Nâng cao vai trò của hiệp hội ngành hàng và văn hóa tuân thủ của doanh nghiệp cũng là "hàng rào mềm" quan trọng…

ma-so-vung-trong.jpg

Để hiệp hội là “tai mắt” của thị trường

PV: Quả thật, những nghi ngại về khuất tất trong cấp mã số vùng trồng sầu riêng đã xuất hiện từ năm 2022. Điều gì khiến cho vụ việc chưa được xử lý, ngăn chặn sớm?

TS. Trần Hữu Hiệp: Ngay từ năm 2022-2023, khi xuất khẩu sầu riêng tăng trưởng nóng, dư luận đã phản ánh tình trạng cho thuê, mượn, mua bán mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, nơi có sản lượng thì thiếu mã, nơi có mã thì thiếu hàng, nhưng “độ trễ” trong phát hiện xử lý khiến tình trạng nghiêm trọng hơn.

Có ba nguyên nhân dẫn tới tình trạng này. Một là, cơ chế hậu kiểm còn mỏng, dữ liệu vùng trồng phân tán, chưa liên thông thời gian thực, nên cảnh báo khó chuyển hóa thành hành động thanh tra tức thời.

Hai là, khi nghi vấn chỉ ngay vào người trong bộ máy cấp phép, cơ chế tự kiểm tra nội bộ gần như mất tác dụng, vì "trọng tài" và "cầu thủ" là một.

Ba là, với những thông tin ban đầu cho thấy tính chất, thủ đoạn, sự câu kết, gắn bó lợi ích bất chính của một bộ phận cán bộ có chức, có quyền và người trục lợi rất chặt chẽ.

Vậy nên nguy cơ được nhận diện từ 2022 nhưng phải đến khi cơ quan điều tra vào cuộc mới thực sự được xử lý.

PV: Thực trạng này đặt ra câu hỏi quyền hạn và trách nhiệm của các hiệp hội. Xuất khẩu nông sản là ngành chủ lực mang lại giá trị gia tăng cao nhưng dường như tiếng nói của các hiệp hội vẫn chưa có đủ trọng lượng. Theo ông, vướng mắc này nên được hoá giải thế nào?

TS. Trần Hữu Hiệp: Trong “vụ án sầu riêng”, Hiệp hội đã cảnh báo đúng và cảnh báo sớm. Điều họ thiếu là công cụ cảnh báo đủ "sức nặng". Đây là nghịch lý của mô hình hiệp hội ngành hàng tại Việt Nam nói chung.

Các hiệp hội được kỳ vọng là "tai mắt" của thị trường, nhưng không được tiếp cận dữ liệu quản lý nhà nước, không có cơ chế phản hồi bắt buộc từ cơ quan chức năng.

Theo tôi, cần quy định rõ ràng về cơ chế "cảnh báo có phản hồi bắt buộc". Khi hiệp hội gửi văn bản cảnh báo dấu hiệu gian lận có căn cứ, cơ quan quản lý phải phản hồi bằng văn bản trong thời hạn xác định, kèm hướng xử lý.

Đồng thời, cần trao cho hiệp hội quyền tiếp cận một phần dữ liệu vùng trồng, mã số đóng gói để tự đối chiếu sản lượng, thay vì chỉ nhận phản ánh một chiều từ hội viên. Có như vậy, tiếng nói hiệp hội mới chuyển từ "kiến nghị" sang "cảnh báo có trọng lượng thực thi".

hiep-hoi.jpg

Nông hộ và doanh nghiệp đều cần rút ra bài học

PV: Trở lại câu chuyện mã số vùng trồng sầu riêng hiện tại, sau này sẽ là các loại nông sản xuất khẩu chính ngạch, chúng ta nên quản lý và giám sát tuân thủ tiêu chuẩn mã số vùng trồng như thế nào? Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của quốc gia nào?

TS. Trần Hữu Hiệp: Hướng đi đang được đặt ra là đúng: đơn giản hóa thủ tục nhưng siết hậu kiểm, số hóa toàn bộ hồ sơ, kết nối cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc toàn quốc.

Với vùng trồng phục vụ nội địa, rút ngắn thời gian giải quyết kèm hậu kiểm là hợp lý. Với vùng trồng xuất khẩu, cần duy trì tiền kiểm chặt chẽ vì đây là nơi hàng rào kỹ thuật của nước nhập khẩu đặt yêu cầu cao nhất.

Điều đáng mừng là Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói vừa ban hành đã nêu rõ các điểm này.

Về kinh nghiệm quốc tế, Thái Lan là mô hình đáng tham khảo không phải vì họ có bộ máy hoàn hảo. Vấn đề là họ tổ chức tốt khâu kiểm tra chất lượng ngay tại vườn trước khi cho thương lái thu mua, quy định rõ thời điểm nào một vùng trồng mới đạt chuẩn để được thu hoạch, giao dịch.

Cách làm này giảm tình trạng "chạy" theo sản lượng bất chấp chất lượng, vốn là mảnh đất màu mỡ cho gian lận mã số nảy sinh. Việt Nam cần tiếp thu và áp dụng nguyên tắc gắn chất lượng trên thực địa với quyền được cấp mã, thay vì chỉ xét trên hồ sơ giấy tờ.

PV: Bản thân những nông hộ, doanh nghiệp sản xuất nông sản cũng nên rút kinh nghiệm gì từ vụ việc này, thưa ông?

TS. Trần Hữu Hiệp: Với nông hộ, bài học lớn nhất là không nên xem mã số vùng trồng như một loại "giấy phép" xin cho xong rồi để đó mà là tài sản gắn liền với uy tín cá nhân.

Tài sản này cần được bảo vệ như bảo vệ thương hiệu của chính mình, tuyệt đối không cho thuê, cho mượn mã số dưới bất kỳ hình thức nào. Bởi lẽ, khi mã số bị lạm dụng, người đầu tiên bị thu hồi quyền xuất khẩu chính là chủ sở hữu hợp pháp của mã số đó.

Với doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu, cần chủ động đối chiếu sản lượng thực tế với công suất vùng trồng liên kết, không chấp nhận nguồn hàng "trôi nổi" mượn danh mã số để hợp thức hóa xuất xứ.

Về lâu dài, nông hộ và doanh nghiệp nên liên kết theo chuỗi giá trị, gắn với hợp tác xã. Từ đó, giám sát chất lượng và truy xuất nguồn gốc trở thành quy trình minh bạch, nhiều bên cùng giám sát, thay vì phó thác cho một khâu cấp phép hành chính vốn đã cho thấy có thể bị lợi dụng.

“Vụ án sầu riêng” lần này là một cuộc trả giá đắt. Dù vậy, nó có thể là cơ hội để ngành sầu riêng nói riêng và nông sản xuất khẩu nói chung xây dựng nền tảng quản trị theo hướng minh bạch kèm trách nhiệm giải trình rõ ràng hơn ở mọi mắt xích trong chuỗi cung ứng.


(0) Bình luận
“Vụ án sầu riêng”, Thứ trưởng vướng lao lý: Ai sầu hơn ai?
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO