Vì sao sau 4 thập kỷ thu hút FDI, doanh nghiệp Việt vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng?

Nhật Đức | 19:33 07/08/2026

Sau bốn thập kỷ thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam vẫn đối mặt với khoảng cách lớn giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước. Theo bà Bùi Thu Thủy, Nghị quyết 10-NQ/TW đặt mục tiêu tháo gỡ "điểm nghẽn" này bằng những giải pháp vượt trội nhằm nâng cao năng lực hấp thụ và thúc đẩy liên kết giữa hai khu vực.

Vì sao sau 4 thập kỷ thu hút FDI, doanh nghiệp Việt vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng?

Chia sẻ tại Tọa đàm "Nghị quyết 10: Phát triển hệ sinh thái FDI chất lượng cao" do Cục thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức, bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho biết, sau gần 40 năm thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam ghi nhận nhiều thành tựu quan trọng từ khu vực FDI. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra hiện nay không chỉ là FDI đã đóng góp bao nhiêu cho tăng trưởng mà còn là thực lực của nền kinh tế và năng lực của doanh nghiệp trong nước đã được nâng lên đến đâu. Thực tế cho thấy, khoảng cách giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa vẫn còn rất lớn.

Theo bà Thủy, việc nâng cao chất lượng FDI và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước không phải đến Nghị quyết 10-NQ/TW mới được đặt ra. Từ Nghị quyết 50-NQ/TW và trong suốt quá trình quản lý FDI, Việt Nam đã theo đuổi mục tiêu này, song đây là bài toán khó mà nhiều quốc gia cũng gặp phải, khi FDI phát triển mạnh nhưng vẫn tồn tại tình trạng "hai nền kinh tế".

Phân tích nguyên nhân, bà Thủy cho rằng khó khăn xuất phát từ cả phía doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Ở phía doanh nghiệp FDI, theo bà, khi đầu tư vào Việt Nam, các tập đoàn nước ngoài thường mang theo hệ sinh thái và mạng lưới nhà cung cấp đã hình thành từ trước, đặc biệt là các doanh nghiệp đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc. Dù việc sử dụng nhà cung ứng trong nước có thể giúp giảm chi phí, nhưng các doanh nghiệp FDI "rất ngại thay đổi" bởi họ đã có quan hệ hợp tác lâu dài và quá trình đánh giá đối tác rất kỹ lưỡng. Điều này khiến doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi muốn tham gia chuỗi cung ứng.

Ở chiều ngược lại, bà Thủy cũng thừa nhận doanh nghiệp trong nước hiện vẫn còn nhiều hạn chế để đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn FDI. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, hạn chế cả về vốn, năng lực quản trị lẫn công nghệ, trong khi số doanh nghiệp đủ khả năng tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia chưa nhiều. Đây cũng là nguyên nhân khiến khả năng hấp thụ và lan tỏa từ dòng vốn FDI còn hạn chế.

Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính). Ảnh: DGIC

Theo bà, thời gian qua Việt Nam đã triển khai nhiều cơ chế nhằm nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, từ Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đến việc sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng nhiều chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân, đặc biệt là năng lực của doanh nghiệp nội địa vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, vẫn còn khoảng cách chưa thể hấp thụ được dòng vốn.

Đồng thời, bà Thủy cũng chỉ ra một thực tế khác là trong giai đoạn trước, phần lớn dự án FDI vào Việt Nam có hàm lượng công nghệ không quá nhiều, số lượng dự án gia công lắp ráp còn tương đối lớn. Khoảng 10-20 năm gần đây mới bắt đầu chuyển bước, hàm lượng công nghệ đã cao hơn. Tuy nhiên, tốc độ chuyển giao công nghệ của các tập đoàn FDI cho trong nước vẫn chủ yếu là nội bộ doanh nghiệp (từ doanh nghiệp mẹ cho các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam), còn chuyển giao ra bên ngoài thì vẫn rất khó.

Để thúc đẩy liên kết, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi. Bà Thủy dẫn ví dụ Quyết định 29 về ưu đãi đầu tư đặc biệt, trong đó các dự án công nghệ cao gắn với đào tạo nhân lực hoặc chuyển giao công nghệ có thể được hưởng mức thuế ưu đãi 5% trong thời gian tới 37 năm. Tuy nhiên, đến nay mới chỉ có một dự án áp dụng cơ chế này, cho thấy các chính sách ưu đãi hiện hành vẫn chưa đủ sức hấp dẫn để doanh nghiệp FDI chủ động gắn hoạt động đầu tư với chuyển giao công nghệ và phát triển doanh nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh đó, Nghị định 182/2024/NĐ-CP về cơ chế hỗ trợ đầu tư trong bối cảnh áp dụng Thuế tối thiểu toàn cầu cũng đang được triển khai nhưng vẫn còn gặp khó khăn trong quá trình giải ngân để đạt hiệu quả như kỳ vọng của doanh nghiệp.

Theo bà Thủy, dù hệ sinh thái doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước đã được quan tâm phát triển trong nhiều năm qua nhưng vẫn còn không ít hạn chế. Chính vì vậy, Nghị quyết 10-NQ/TW đặt ra yêu cầu các giải pháp trong giai đoạn tới phải "rất vượt trội và khác biệt" thì mới có thể thay đổi được thực trạng tồn tại nhiều năm qua.

Qua tinh thần Nghị quyết 10/NQ-TW, Chính phủ coi kết quả hoạt động, thành tích, thành tựu của FDI không chỉ là vấn đề lợi nhuận doanh nghiệp mà là kết quả trong phát triển kinh tế đất nước. Khi doanh nghiệp thành công thì đó cũng là kết quả phát triển kinh tế của đất nước. Tất cả các chính sách hướng tới đều phân vai rõ ràng: các nhà đầu tư nước ngoài có vai trò gì, trách nhiệm gì; đổi lại nhà nước sẽ làm gì từ thể chế, chuẩn bị hạ tầng chiến lược đến nguồn nhân lực để nâng cao năng lực hấp thụ FDI chất lượng cao.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Vì sao sau 4 thập kỷ thu hút FDI, doanh nghiệp Việt vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng?
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO