Gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng nhẹ, giao dịch vẫn chậm
Thị trường gạo trong tuần từ 6/7 đến 12/7 ghi nhận xu hướng tăng nhẹ ở một số chủng loại nguyên liệu xuất khẩu, trong khi phần lớn mặt hàng khác duy trì ổn định.
Đáng chú ý, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 tăng từ khoảng 8.900 đồng/kg vào đầu tuần lên mức 8.950 - 9.050 đồng/kg khi kết tuần. Gạo CL 555 cũng có thời điểm tăng từ 9.400 đồng/kg lên 9.600 đồng/kg vào giữa tuần, sau đó điều chỉnh về khoảng 9.400 - 9.500 đồng/kg trong ngày 12/7.
Trong khi đó, giá gạo nguyên liệu OM 5451 duy trì ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg và Đài Thơm 8 giữ trong khoảng 9.200 - 9.400 đồng/kg. Các chủng loại OM 380 và Sóc thơm cùng đứng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 được giao dịch quanh 10.750 - 10.900 đồng/kg.
Tại các chợ bán lẻ, giá gạo hầu như không biến động. Gạo Nàng Nhen tiếp tục giữ mức cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg và gạo Jasmine dao động 16.000 - 17.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam kết tuần trong trạng thái đi ngang. Gạo Jasmine được chào bán ở mức 513 - 517 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm dao động 510 - 520 USD/tấn và gạo thơm 100% tấm ở mức 348 - 352 USD/tấn. So với các nước cạnh tranh, gạo 5% tấm của Thái Lan được chào bán 478 - 482 USD/tấn, trong khi gạo cùng loại của Ấn Độ ở mức 350 - 354 USD/tấn.
Hồ tiêu tăng mạnh vào cuối tuần, giá xuất khẩu đồng loạt điều chỉnh
.png)
Thị trường hồ tiêu trong nước ghi nhận xu hướng tăng rõ rệt, dù giá gần như đi ngang trong những phiên đầu tuần. Đà tăng tập trung chủ yếu trong hai ngày 9 và 10/7, đưa giá thu mua tại các vùng nguyên liệu trọng điểm lên mức 138.000 - 141.000 đồng/kg và duy trì ổn định đến cuối tuần.
Từ ngày 5/7 đến 8/7, giá tiêu không thay đổi, với Đắk Lắk và Đắk Nông cùng ở mức 135.000 đồng/kg; Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu đạt 134.000 đồng/kg; Đồng Nai thấp nhất với 133.000 đồng/kg.
Đến ngày 10/7, thị trường tiếp tục bật tăng mạnh từ 3.000 - 5.000 đồng/kg. Sau nhịp điều chỉnh này, giá tại Đắk Nông đạt 141.000 đồng/kg, cao nhất cả nước; Đắk Lắk lên 140.000 đồng/kg; Bà Rịa - Vũng Tàu đạt 139.000 đồng/kg; Gia Lai và Đồng Nai cùng ở mức 138.000 đồng/kg. Mặt bằng giá trên được giữ ổn định trong ba ngày cuối tuần.
.png)
Trái ngược với diễn biến trong nước, giá tiêu xuất khẩu thế giới điều chỉnh giảm vào cuối tuần. Giá tiêu đen Lampung của Indonesia giảm từ 7.121 USD/tấn xuống 7.079 USD/tấn, trong khi tiêu trắng Muntok giảm từ 9.253 USD/tấn còn 9.198 USD/tấn.
Đáng chú ý, tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l giảm tổng cộng 250 USD/tấn, từ 6.100 USD/tấn xuống còn 5.850 USD/tấn. Loại 550 g/l giảm từ 6.200 USD/tấn xuống 5.950 USD/tấn. Giá tiêu trắng Việt Nam cũng giảm mạnh 800 USD/tấn, từ 9.000 USD/tấn xuống còn 8.200 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu đen Brazil và Malaysia cùng tiêu trắng Malaysia tiếp tục đi ngang.
Diễn biến trái chiều giữa giá thu mua trong nước và giá xuất khẩu cho thấy nguồn cung nội địa đang tạo lực đỡ cho thị trường, song doanh nghiệp xuất khẩu vẫn phải đối mặt với áp lực cạnh tranh và sự điều chỉnh của giá chào bán quốc tế.
Giá cao su thế giới khép tuần tăng, thị trường trong nước ổn định
.png)
Thị trường cao su ghi nhận mặt bằng giá thế giới tăng so với đầu tuần, dù diễn biến trong những phiên cuối có sự phân hóa giữa các sàn giao dịch châu Á.
Trên Sàn giao dịch Osaka, hợp đồng cao su giao tháng 12 tăng từ 410,3 Yên/kg đầu tuần lên 419,8 Yên/kg vào cuối tuần, tương đương tăng khoảng 2,32%. Tại Thái Lan, giá cao su RSS3 giao tháng 8 tăng mạnh từ 86,4 Baht/kg lên 91,3 Baht/kg, tương ứng gần 5,7%.
Trên Sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải, hợp đồng tháng 8 tăng từ 16.690 Nhân dân tệ/tấn lên 16.795 Nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng tháng 9 tăng rõ hơn, từ 16.755 Nhân dân tệ/tấn lên 16.905 Nhân dân tệ/tấn, tương đương gần 0,9%. Tại Singapore, hợp đồng cao su giao tháng 8 trên SICOM tăng từ 211,4 US cent/kg lên 215 US cent/kg, tăng khoảng 1,7%.
Ở thị trường trong nước, giá thu mua tại các doanh nghiệp lớn không thay đổi. MangYang giữ mủ nước ở 458 - 463 đồng/TSC; Bình Long thu mua tại nhà máy 505 đồng/độ TSC/kg; Cao su Bà Rịa duy trì mủ nước 420 đồng/độ TSC/kg; Phú Riềng giữ mủ nước 420 đồng/TSC.
Nhìn chung, giá cao su thế giới kết tuần tích cực, còn thị trường nội địa tiếp tục đi ngang. Diễn biến tuần tới sẽ phụ thuộc vào giá dầu, nhu cầu của ngành ô tô và các yếu tố địa chính trị.
Giá heo hơi cuối tuần ổn định, miền Nam thoát mốc 60.000 đồng/kg
Giá heo hơi nhìn chung duy trì trạng thái ổn định, chỉ xuất hiện một số điều chỉnh cục bộ tại miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam. Giá thu mua trên cả nước cuối tuần dao động trong khoảng 61.000 - 66.000 đồng/kg.
.png)
Tại miền Bắc, mặt bằng giá gần như không thay đổi trong tuần. Hà Nội tiếp tục giữ mức 66.000 đồng/kg, trong khi Lào Cai duy trì 65.000 đồng/kg. Nhiều địa phương như Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Phòng, Điện Biên và Hưng Yên cũng giữ mức cao nhất cả nước là 66.000 đồng/kg.
Ở miền Trung - Tây Nguyên, giá heo hơi chủ yếu đi ngang. Hà Tĩnh và Quảng Trị cùng duy trì 64.000 đồng/kg, Đắk Lắk giữ mức 62.000 đồng/kg. Đáng chú ý, Lâm Đồng tăng 1.000 đồng/kg ngay đầu tuần, từ 60.000 đồng/kg lên 61.000 đồng/kg, sau đó tiếp tục ổn định.
Tại miền Nam, thị trường ghi nhận tín hiệu tích cực hơn. Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh giữ mức 63.000 đồng/kg xuyên suốt tuần. Trong khi đó, Cà Mau tăng từ 60.000 đồng/kg đầu tuần lên 61.000 đồng/kg vào ngày 9/7 và duy trì đến cuối tuần. Đồng Tháp cũng có diễn biến tương tự, giúp mức giá thấp nhất cả nước được nâng từ 60.000 đồng/kg lên 61.000 đồng/kg.
Nhìn chung, so với đầu tuần, giá heo hơi cuối tuần không biến động mạnh nhưng mặt bằng thấp nhất đã được cải thiện. Trong ngắn hạn, thị trường nhiều khả năng tiếp tục dao động trong biên độ hẹp khi nguồn cung và nhu cầu tiêu thụ chưa có thay đổi đáng kể.

