“Bài toán” khó cho thẩm định viên: Định giá động vật hoang dã trong tố tụng hình sự

Ths. Nguyễn Quang Tuấn - Ths. Tạ Duy Hùng - Nguyễn Thị Hồng Hạnh | 23:29 13/05/2026

Pháp luật chưa có quy định riêng về thẩm định giá động vật hoang dã, không có cơ sở dữ liệu giá thống nhất, không có nguồn tham khảo khác nhau..., vậy thẩm định viên về giá căn cứ vào đâu để đưa ra giá mua - bán của động vật hoang dã?

“Bài toán” khó cho thẩm định viên: Định giá động vật hoang dã trong tố tụng hình sự
Tê giác (Ảnh: WWF)

Tạp chí điện tử Nhịp sống thị trường (Markettimes) vừa nhận được bài viết của nhóm tác giả đến từ Công ty TNHH Thẩm định giá và Tư vấn tài chính Việt Nam (VFA VIETNAM) gồm: Ths. Nguyễn Quang Tuấn - Ths. Tạ Duy Hùng - Nguyễn Thị Hồng Hạnh. Bài viết đặt ra một vấn đề khá thú vị, đó là việc thẩm định viên về giá làm thế nào để định giá được động vật hoang dã trong vụ án hình sự?

Tạp chí điện tử Nhịp sống thị trường xin giới thiệu bài viết của nhóm tác giả:

Việc định giá tài sản là động vật hoang dã trong tố tụng hình sự là một "bài toán" đầy thách thức, khác hoàn toàn so với việc định giá bất động sản hay các loại tài sản thông thường khác.

Động vật hoang dã là động vật có nguồn gốc tự nhiên chưa được con người thuần hoá.

Động vật hoang dã được phân thành 2 loại: Động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm và Động vật hoang dã thông thường.

Từ năm 1994, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) với mục tiêu kiểm soát chặt chẽ việc buôn bán, vận chuyển bất hợp pháp các loài động vật, thực vật nguy cấp, quý, hiếm và mẫu vật của chúng trong hoạt động thương mại quốc tế.

Các quy định pháp luật hiện hành

Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 (Điều 215 - 222): Quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục trưng cầu định giá và thực hiện định giá tài sản. Đây là căn cứ cao nhất để cơ quan điều tra yêu cầu định giá tang vật vụ án.

Nghị định 250/2025/NĐ-CP: Quy định chi tiết về việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Đây là văn bản "xương sống" hướng dẫn cách thức định giá đối với các loại tài sản đặc thù.

 Các quy định về phân loại và giám định động vật hoang dã như: Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được sửa đổi, bổ sung tại các Nghị định 64/2019/NĐ-CP và 43/2026/NĐ-CP.

Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (sửa đổi bởi Nghị định 84/2021/NĐ-CP).

Phụ lục Công ước CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài ĐVHD nguy cấp).

Thực tế áp dụng đang làm khó thẩm định viên về giá 

Hiện nay pháp luật chưa có quy định riêng về thẩm định giá động vật hoang dã. Nhiều hội đồng hoặc đơn vị thẩm định giá từ chối thực hiện hoặc đưa ra kết quả thẩm định.

Do thiếu quy chuẩn chuyên ngành nên các Hội đồng định giá, các đơn vị tư vấn thẩm định giá thường áp dụng linh hoạt, dẫn đến thiếu thống nhất, đồng bộ trong việc áp dụng phương pháp thẩm định giá đối với động vật hoang dã nên có thể đưa ra các mức giá khác nhau gây khó khăn trong việc xác định thiệt hại và đưa ra khung hình phạt.

Cụ thể, cùng là sừng tê giác nhưng tại địa phương A: kết luận giá 15 triệu/kg còn tại địa phương B: kết luật giá 30 triệu/kg.

Nguyên nhân là do hiện nay không có cơ sở dữ liệu giá thống nhất; không có nguồn tham khảo khác nhau và cách thu thập thông tin thị trường không đồng bộ.

Hiện nay, việc định giá động vật hoang dã trong tố tụng hình sự đã được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định chi tiết về việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Đây được xem là văn bản "xương sống" hướng dẫn cách thức định giá đối với các loại tài sản đặc thù.

Ngoài ra còn có các quy định về quản lý động vật hoang dã và thực thi CITES.

Khó khăn, vướng mắc về pháp lý và chuẩn mực thẩm định

Nguồn thông tin giá không chính thống: Đơn vị thẩm định giá thường phải tham khảo giá từ các vụ án tương tự, giá từ các vườn thú, trung tâm cứu hộ hoặc thậm chí là giá "chợ đen" (dù đây là nguồn không hợp pháp để đưa vào báo cáo thẩm định).

Biến động theo tình trạng cá thể: Giá trị của một cá thể động vật thay đổi lớn dựa trên: Tình trạng sức khỏe (còn sống, yếu hay đã chết/cấp đông); Trọng lượng, độ tuổi và giới tính (khả năng sinh sản); Mục đích sử dụng (làm cảnh, làm thuốc, hay lấy thịt/da).

Thiếu quy định cụ thể: Hiện nay, các Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam chủ yếu tập trung vào máy móc, thiết bị; bất động sản và xác định giá trị doanh nghiệp. Chưa có một bộ tiêu chuẩn riêng biệt hay hướng dẫn chi tiết từ liên bộ về phương pháp định giá dành riêng cho "hàng hóa đặc biệt" là động vật hoang dã.

Chưa có hướng dẫn cụ thể về các cách tiếp cận đi liền là các phương pháp thẩm định giá cho loại động vật hoang dã, nên phải áp dụng các chuẩn mực thẩm định giá, phương pháp định giá chung của các loại tài sản.

Các quy định chung thường hướng dẫn các căn cứ thẩm định giá, thu thập, khảo sát thông tin thị trường… thường là ở thị trường chính thức, công khai, có tính pháp lý trong khi thị trường của nhiều loại động vật hoang dã không có thị trường chính thức, chủ yếu là thị trường ngầm (giao dịch mua bán không công khai, buôn lậu…), các thông tin về thị trường này không hướng dẫn được sử dụng trong thẩm định giá là khó khả thi.

Căn cứ theo khoản 2, điều 20 của Nghị định 250/2025/NĐ-CP ngày 22/9/2025 của Chính phủ Quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của hội đồng định giá tài sản, trình tự thủ tục định giá tài sản trong tố tung hình sự thì việc định giá tài sản là hàng cấm phải dựa trên ít nhất một trong các căn cứ sau: Giá của tài sản trên thị trường; Giá ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu hàng cấm (nếu có); Giá do Doanh nghiệp thẩm định giá hoặc đơn vị tư vấn giá cung cấp; Các căn cứ khác giúp xác định giá của tài sản cần định giá do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cung cấp và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tin cậy của các căn cứ này.

Theo quy định tại khoản 3 điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP ngày 22/9/2025 của Chính phủ:

“a) Trường hợp tại thời điểm được yêu cầu định giá không thu thập được các mức giá của tài sản cần định giá hoặc tài sản tương tự thì áp dụng tại thời điểm gần thời điểm được yêu cầu định giá nhưng không quá 24 tháng tính đến thời điểm được yêu cầu định giá trở về trước. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm ghi rõ thời điểm yêu cầu định giá tại văn bản yêu cầu định giá;

b) Trường hợp tại địa điểm được yêu cầu định giá không thu thập được các mức giá của tài sản cần định giá hoặc tài sản tương tự thì mở rộng phạm vi thu thập thông tin về giá theo nguyên tắc lựa chọn thu thập tại các địa điểm từ gần đến xa và có đặc điểm thị trường tương tự với địa điểm được yêu cầu định giá. Trường hợp không thu thập được các mức giá của tài sản cần định giá hoặc tài sản tương tự trong lãnh thổ Việt Nam, thì mở rộng việc thu thập giá tại khu vực và thế giới trên các trang thông tin điện tử chính thức của các cơ quan, tổ chức sản xuất, kinh doanh tại khu vực và thế giới;

c) Khi thu thập các mức giá trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều này, các mức giá đó cần được xem xét điều chỉnh về thời điểm và địa điểm được yêu cầu định giá căn cứ theo phương pháp định giá tài sản do Hội đồng định giá tài sản quyết định thực hiện theo quy định của pháp luật.”

Doanh nghiệp thẩm định giá đã căn cứ theo hướng dẫn này để làm cơ sở thu thập thông tin. Tuy nhiên, mỗi địa phương hoặc khu vực khác nhau có giá khác nhau nên việc áp dụng giá không thống nhất, tại điểm c khoản 3 điều 20 cũng có nêu Khi thu thập các mức giá trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều này, các mức giá đó cần được xem xét điều chỉnh về thời điểm và địa điểm được yêu cầu định giá, thực tế hiện nay rất nhiều doanh nghiệp thẩm định giá đang rất lúng túng trong việc điều chỉnh về thời gian và địa điểm, việc điều chỉnh về thời gian và địa điểm này thực hiện như thế nào cần có những văn bản hướng dẫn cụ thể nội dung này.

Xác định giá trị "phi thị trường": Động vật hoang dã (đặc biệt là loài quý hiếm thuộc Phụ lục I CITES hoặc Nhóm IB) bị cấm buôn bán thương mại. Khi không có thị trường hợp pháp, việc áp dụng phương pháp so sánh thị trường là cực kỳ khó khăn và thiếu căn cứ pháp lý vững chắc.

Sự chồng chéo giữa giá trị tang vật và khung hình phạt: Bộ luật Hình sự thường căn cứ vào số lượng cá thể hoặc giá trị tài sản để định khung. Đã là hàng cấm thì đa số không được lưu thông trên thị trường, do vậy không thể có căn cứ để quy định mức giá. Đặc biệt là đối với động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm thì càng không thể có căn cứ chính xác nào để quy định về giá. Dẫn đến tình trạng cùng về một hành vi, việc áp dụng giá không thống nhất dẫn đến cùng một loài, một cá thể động vật nguy cấp, quý, hiếm thì ở địa phương này người vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn ở địa phương khác thì có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cùng về định giá cá ngựa khô:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2023/HS-ST ngày 21/7/2023 của TAND huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội ghi nhận: Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự có kết luận định giá số 07/KL-HDDGTS ngày 19/01/2023 xác định 10kg cá ngựa khô có giá 240 triệu đồng (tương đương 24 triệu đồng/kg).

- Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2023/HS-ST ngày 25/4/2023 của TAND huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng ghi nhận: Kết luận định giá tài sản số 67 ngày 08/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Trị giá 14,5 kg các cá thể cá ngựa khô là 210.127.177 đồng (tương đương gần 14,5 triệu đồng/kg).

- Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 10/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự – UBND thành phố Uông Bí kết luận: Tại thời điểm tháng 07/2023, cá ngựa khô có giá là 22.500.000đồng/kg.

   Việc giá cá ngựa khô khác nhau trong gần như cùng 1 thời điểm có thể lý giải một phần là do loài cá ngựa khác nhau. Tuy vậy cũng gây không ít khó khăn cho Đơn vị thẩm định giá trong việc tham khảo mức giá của tài sản tương tự.

Kiến nghị và đề xuất:

 Hoàn thiện khung pháp lý và hướng dẫn liên ngành:

Ban hành hướng dẫn liên tịch: Cần có văn bản hướng dẫn cụ thể giữa Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, và các cơ quan Tư pháp để thống nhất về quy trình và phương pháp định giá riêng cho động vật hoang dã.

Xây dựng Danh mục giá tham chiếu quốc gia: Thiết lập một danh mục giá chuẩn cho các loài động vật hoang dã phổ biến thường bị buôn lậu để làm căn cứ áp dụng thống nhất, tránh tình trạng mỗi địa phương định giá một kiểu.

 Luật hóa các phương pháp đặc thù: Công nhận tính pháp lý của các phương pháp định giá phi thị trường trong tố tụng hình sự khi đối tượng là hàng cấm buôn bán thương mại.

Đa dạng hoá và cụ thể hoá phương pháp định giá:

Do không có thị trường công khai, cần linh hoạt áp dụng các phương pháp:

Phương pháp chi phí thay thế: Tính toán giá trị dựa trên toàn bộ chi phí để tìm kiếm, đánh bắt, vận chuyển hoặc phục hồi một cá thể tương tự ngoài tự nhiên.

Tham chiếu từ thị trường hợp pháp: Vận dụng giá mua bán từ các cơ sở nuôi sinh sản, vườn thú hoặc trung tâm cứu hộ được cấp phép hoạt động hợp pháp để làm cơ sở so sánh và được phép khảo sát thu thập thông tin ở thị trường ngầm.

Cho phép sử dụng dữ liệu tiền lệ: Tham khảo giá trị đã được phê duyệt trong các bản án hoặc quyết định định giá của các vụ án tương tự đã diễn ra trước đó.


(0) Bình luận
“Bài toán” khó cho thẩm định viên: Định giá động vật hoang dã trong tố tụng hình sự
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO