Tuyến cao tốc dài 96,13 km, vốn đầu tư 36.125 tỷ đồng
Dự án có chiều dài 96,13 km, đi qua TP.HCM, Tây Ninh và Đồng Tháp. Trong đó, phần tuyến qua TP.HCM dài khoảng 1,82 km, qua Tây Ninh 28,41 km và qua Đồng Tháp 65,90 km.
Về quy mô, đoạn TP.HCM - Trung Lương được đầu tư lên 8 làn xe, tốc độ thiết kế 120 km/giờ. Đoạn Trung Lương - Mỹ Thuận và đoạn từ nút giao An Thái Trung đến đầu cầu phía Bắc cầu Mỹ Thuận 2 được đầu tư hoàn chỉnh 6 làn xe, tốc độ thiết kế 100 km/giờ.

Trên toàn tuyến dự kiến xây dựng 66 cầu, gồm 61 cầu trên tuyến chính và 5 cầu tại các nút giao; 149 cống và 8 hầm chui dân sinh. Tổng mức đầu tư của dự án là 36.125 tỷ đồng. Trong đó, vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư là 5.426 tỷ đồng, vốn nhà đầu tư huy động 30.699 tỷ đồng và không sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
Liên danh nhà đầu tư do Tập đoàn Đèo Cả đứng đầu; doanh nghiệp dự án là Công ty TNHH Cao tốc Sài Gòn - Mỹ Thuận. Dự án khởi công ngày 19/12/2025, thời gian dự kiến hoàn thành vào tháng 12/2028.
Quy mô vốn và chiều dài tuyến cho thấy đây không chỉ là một dự án mở rộng mặt đường đơn thuần. Khối lượng cầu, cống, hầm chui, xử lý nền đất yếu và tổ chức thi công trên phạm vi gần 100 km khiến yêu cầu về điều phối tiến độ và nguồn lực trở nên đặc biệt lớn.
1.600 tỷ đồng sản lượng sau thời gian ngắn triển khai
Theo thông tin từ dự án, công trường hiện huy động 1.021 nhân sự, gần 400 máy móc, thiết bị, 35 dây chuyền CDM và 34 dây chuyền CKN.
Các nhà thầu tổ chức 67 mũi thi công, trong đó có 35 mũi thi công đường và 32 mũi thi công cầu. Tổng sản lượng thực hiện được báo cáo khoảng 1.600 tỷ đồng.
Con số này cho thấy dự án đã bước vào giai đoạn triển khai với cường độ cao. Việc tổ chức nhiều mũi thi công đồng thời cũng là cách để tận dụng mặt bằng có sẵn, thay vì chờ toàn bộ tuyến được bàn giao mới triển khai.
Tuy nhiên, với tổng mức đầu tư 36.125 tỷ đồng, phần sản lượng đã thực hiện mới chiếm một tỷ lệ tương đối nhỏ so với toàn bộ quy mô dự án. Điều đó đồng nghĩa khối lượng công việc còn lại vẫn rất lớn, trong khi thời hạn hoàn thành được đặt ra là cuối năm 2028.
Vì vậy, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở năng lực huy động thiết bị và nhân lực, mà còn ở khả năng duy trì mặt bằng thi công liên tục và xử lý các điểm nghẽn có thể làm gián đoạn chuỗi công việc.
Ứng dụng cọc đất gia cố xi măng CDM để giải bài toán nền đất yếu
Do đặc thù nền đất yếu tại Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vấn đề kỹ thuật đáng chú ý nhất của dự án.
Theo phương án được lựa chọn, Tập đoàn Đèo Cả đã nghiên cứu chuyển từ giải pháp gia tải kết hợp bấc thấm PVD sang cọc đất gia cố xi măng CDM.
Điểm đáng chú ý của phương án này là mục tiêu xử lý độ lún giữa phần đường mở rộng và tuyến hiện hữu. Khi mở rộng một tuyến cao tốc đã khai thác, nguy cơ lún lệch giữa nền đường cũ và nền đường mới là vấn đề cần kiểm soát chặt chẽ. Nếu độ lún không được kiểm soát, sự chênh lệch giữa hai phần nền có thể ảnh hưởng đến chất lượng khai thác và độ bền công trình.
Theo đơn vị triển khai, CDM giúp nền đường ổn định sớm hơn, giảm phụ thuộc vào thời gian thoát nước và qua đó có thể rút ngắn thời gian xử lý nền.
Một lợi ích khác được đặt ra là giảm nhu cầu sử dụng cát đắp. Trong bối cảnh nguồn vật liệu san lấp tại Đồng bằng sông Cửu Long chịu áp lực, đây là yếu tố có ý nghĩa cả về tiến độ lẫn chi phí.
Dù vậy, hiệu quả của giải pháp cuối cùng vẫn phải được đánh giá trên cơ sở chất lượng thi công, kiểm soát kỹ thuật và kết quả quan trắc trong quá trình thực hiện.
Mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật là điểm nghẽn
Nếu năng lực thi công là điều kiện cần thì mặt bằng lại là điều kiện để các nguồn lực đó có thể hoạt động liên tục. Theo tìm hiểu của MarketTimes, tổng diện tích cần giải phóng mặt bằng của dự án là 87,76 ha. Trong đó, khoảng 20,15 ha được xác định cần ưu tiên giải phóng sớm vì ảnh hưởng trực tiếp đến tuyến chính và các nút giao.
Tại TP.HCM, công tác kiểm đếm đã được thực hiện, đơn vị di dời hạ tầng đã được lựa chọn và đang xây dựng đơn giá đất để áp giá bồi thường.
Tại Tây Ninh, công tác kiểm đếm đã hoàn tất, nhưng đơn vị di dời hạ tầng chưa được lựa chọn; địa phương đang xây dựng đơn giá đất để làm cơ sở bồi thường.
Tại Đồng Tháp, các bên đang thống nhất nội dung hợp đồng phối hợp với doanh nghiệp dự án để thực hiện giải phóng mặt bằng.
Những diễn biến này cho thấy mặt bằng chưa hoàn toàn được giải quyết đồng bộ trên toàn tuyến. Với một dự án dài gần 100 km, chỉ cần một số đoạn chưa thể bàn giao cũng có thể khiến việc tổ chức thi công phải chia nhỏ, làm giảm hiệu quả sử dụng máy móc và nhân lực.

Đáng chú ý hơn, hạ tầng kỹ thuật hiện hữu đang được xác định là một trong những vướng mắc lớn. Các tuyến điện hạ thế dọc tuyến và giao cắt với phạm vi thi công đã được khảo sát nhưng chưa thể di dời do chưa hoàn tất thủ tục giữa đơn vị quản lý điện và chính quyền địa phương.
Trong khi đó, hệ thống cáp viễn thông đang được xử lý tạm tại hiện trường để phục vụ thi công. Việc di dời chính thức dự kiến thực hiện đồng bộ với giải phóng mặt bằng.
Điều này đặt ra yêu cầu phối hợp rất cao. Khác với một hạng mục xây dựng thông thường, việc mở rộng cao tốc đang khai thác phải đồng thời bảo đảm an toàn giao thông, duy trì hoạt động của hạ tầng hiện hữu và tạo không gian cho công trường.
Áp lực hoàn thành cuối năm 2028
Dự án mở rộng cao tốc TP.HCM - Trung Lương - Mỹ Thuận đang có lợi thế là đã huy động được nguồn lực lớn và triển khai đồng thời nhiều mũi thi công. Giải pháp xử lý nền bằng CDM cũng được kỳ vọng rút ngắn thời gian thi công và giảm áp lực vật liệu.
Tuy nhiên, phần việc phía trước còn rất lớn. Với tổng vốn 36.125 tỷ đồng và chiều dài hơn 96 km, tiến độ của dự án sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên kết với nhau: giải phóng mặt bằng, di dời hạ tầng kỹ thuật, xử lý nền đất yếu, thi công cầu đường và khả năng duy trì nguồn vốn cũng như năng lực tổ chức thi công.
Đặc biệt, các diện tích mặt bằng ưu tiên và hệ thống điện đang là những vấn đề cần được xử lý sớm nếu muốn bảo đảm tính liên tục của công trường.

Với mốc hoàn thành tháng 12/2028, dư địa thời gian còn khá dài nhưng cũng không thể chủ quan. Điều cần nhất hiện nay đó là sự phối hợp giữa Chủ đầu tư, doanh nghiệp dự án, các nhà thầu và chính quyền địa phương.
Nếu các điểm nghẽn về mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật được tháo gỡ, việc huy động hàng nghìn nhân sự, hàng trăm thiết bị và hàng chục mũi thi công có thể phát huy hiệu quả. Ngược lại, nếu mặt bằng tiếp tục bị chia cắt hoặc việc di dời hạ tầng kéo dài, nguy cơ phát sinh chi phí và ảnh hưởng tiến độ sẽ là vấn đề cần được theo dõi.
