Trong Đề án phát triển, nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn Thủ đô đã được Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký phê duyệt, VinUni là cơ sở giáo dục đại học được giao mục tiêu vào top 100 châu Á vào năm 2030 và top 100 thế giới vào năm 2035. Theo thông tin từ nhà trường, VinUni là trường đại học được giao mục tiêu cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
.png)
Dựa theo danh mục các chương trình, đề án, dự án để trường đại học VinUni hiện thực hóa mục tiêu, nhà trường dự kiến xây dựng Bệnh viện Đại học Vinmec - VinUni trong giai đoạn 2026-2035. Bệnh viện sẽ được xây dựng trên nguồn thu hợp pháp của cơ sở giáo dục đại học, vốn vay, hợp tác với doanh nghiệp và các nguồn huy động hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Trước đó, hồi tháng 1, Trường Đại học VinUni đã thông tin về việc nhà trường phối hợp với Vinmec đầu tư xây dựng bệnh viện nhằm tăng tốc đào tạo y khoa gắn với thực hành lâm sàng, thúc đẩy nghiên cứu dịch chuyển và y học chính xác, hình thành hệ sinh thái học thuật - lâm sàng - công nghệ chuẩn quốc tế.
Thực tế, trước khi có bệnh viện đại học riêng, chương trình đào tạo bác sĩ y khoa, điều dưỡng của trường đại học VinUni vẫn luôn đặt trong môi trường thực hành lâm sàng đa dạng với hệ thống y tế Vinmec và các bệnh viện công lập hàng đầu như Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Da liễu Trung ương, Bệnh viện Tâm thần Hà Nội…
.png)
Việc dự kiến xây dựng Bệnh viện Đại học Vinmec - VinUni có thể được xem là bước tiếp theo trong quá trình hoàn thiện hệ sinh thái đào tạo y khoa, đưa hoạt động đào tạo, nghiên cứu và thực hành lâm sàng về cùng một đầu mối.
Cuộc đua phát triển bệnh viện riêng của các trường đại học y dược trên cả nước
Mô hình trường - viện đang được mở rộng tại nhiều cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe, với vai trò ngày càng rõ nét trong việc kết nối đào tạo, thực hành lâm sàng, nghiên cứu khoa học và khám chữa bệnh.
Khác với mô hình trường liên kết với các bệnh viện bên ngoài để làm nơi thực tập, bệnh viện trực thuộc giúp nhà trường chủ động hơn về môi trường đào tạo, đồng thời tạo điều kiện để giảng viên duy trì hoạt động chuyên môn và nghiên cứu trong thực tế lâm sàng. Sinh viên có thể trực tiếp tiếp xúc với người bệnh, quy trình chẩn đoán, điều trị và chăm sóc dưới sự hướng dẫn của đội ngũ chuyên môn, qua đó rèn luyện và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp.

Một trong những mô hình phát triển rõ nét là Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM. Bệnh viện hiện có 3 cơ sở, quy mô 1.000 giường, cùng hệ thống chuyên khoa và trung tâm chuyên môn đa dạng. Nơi đây triển khai nhiều kỹ thuật chuyên sâu như ghép thận, ghép gan, ghép tim và các kỹ thuật cao trong lĩnh vực tim mạch, thần kinh, tiêu hóa, gan mật, tiết niệu, cơ xương khớp.
Bên cạnh khám chữa bệnh, đào tạo là một trong những hoạt động nòng cốt của bệnh viện với vai trò là cơ sở giảng dạy thực hành. Trong giai đoạn 2014-2022, bệnh viện đã đào tạo và chuyển giao chuyên môn cho 6 bệnh viện tại TP.HCM và 22 bệnh viện tuyến tỉnh, với 37 kỹ thuật chuyên môn. Bệnh viện cũng tổ chức đa dạng các loại hình đào tạo cho đội ngũ nội bộ, nhân viên y tế tại các cơ sở khác và học viên nước ngoài.

Thông qua môi trường bệnh viện, người học có cơ hội tiếp cận trực tiếp với đội ngũ bác sĩ, quy trình chuyên môn cũng như các phương pháp, kỹ thuật mới đang được ứng dụng trong khám và điều trị. Đây là điều kiện quan trọng để rút ngắn khoảng cách giữa kiến thức được đào tạo và thực tiễn lâm sàng.
Đại học Y Hà Nội cũng là một trong những trường có mô hình trường - viện phát triển tương đối toàn diện. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội vừa đảm nhiệm hoạt động khám chữa bệnh, vừa là cơ sở thực hành cho sinh viên và học viên ở nhiều bậc đào tạo. Đầu năm 2026, Bệnh viện 71 Trung ương và Bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Trung ương được chuyển giao về trường, qua đó tiếp tục mở rộng hệ thống cơ sở thực hành với nhiều chuyên khoa và nhóm bệnh khác nhau. Việc bổ sung các bệnh viện này được Bộ Y tế định hướng nhằm tăng cường sự gắn kết giữa đào tạo, thực hành lâm sàng và nghiên cứu khoa học.

Tại các địa phương, mô hình này cũng tạo ra lợi thế đáng kể cho các trường y. Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế, Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ... giúp sinh viên có điều kiện thực hành ngay trong hệ thống y tế của khu vực. Khi mô hình viện - trường phát triển được các kỹ thuật chuyên sâu, người dân cũng có thêm lựa chọn điều trị ngay tại địa phương, qua đó giảm nhu cầu chuyển lên tuyến trên.
Một bệnh viện trực thuộc trường đại học y khoa phát triển tốt vì vậy có thể đồng thời giải quyết ba bài toán: đào tạo người học, giữ và phát triển nhân lực chuyên môn, đồng thời nâng cao năng lực khám chữa bệnh của địa phương.
Không chỉ ở khối trường công, việc các đại học tư nhân đầu tư xây dựng bệnh viện riêng cũng cho thấy cơ sở thực hành đang dần trở thành một phần trong bài toán cạnh tranh về đào tạo y khoa. Bệnh viện Đại học Phenikaa đã đi vào hoạt động từ cuối năm 2024, được đầu tư 3.500 tỷ đồng, quy mô 800 giường bệnh và hơn 30 trung tâm, khoa chuyên môn, đáp ứng tối đa 1.000 lượt khám mỗi ngày. Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng cũng đưa bệnh viện riêng vào vận hành trong năm nay, trong khi Trường Đại học Nam Cần Thơ đang thực hiện giai đoạn 2 dự án mở rộng Bệnh viện Đại học Nam Cần Thơ với số vốn 1.500 tỷ đồng, hướng tới nâng quy mô lên 1.000 giường bệnh.

Khi chủ động đầu tư bệnh viện, các trường có thể kiểm soát tốt hơn môi trường thực hành, cơ cấu chuyên khoa và mức độ kết nối giữa đào tạo với hoạt động khám chữa bệnh. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo nền tảng để các trường phát triển đội ngũ chuyên môn, nghiên cứu ứng dụng và từng bước hình thành hệ sinh thái y tế gắn với nhà trường.
