Tọa đàm "Khát vọng bảo vệ nền độc lập và thống nhất non sông": Những ký ức "hoa lửa" thắp sáng tình yêu Tổ quốc

Dương Trang | 06:22 31/08/2025

Mới đây, trong khuôn khổ triển lãm “95 cờ Đảng soi đường” tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc gia (Đông Anh, Hà Nội), một tọa đàm đặc biệt với chủ đề “Khát vọng bảo vệ nền độc lập và thống nhất non sông” đã diễn ra.

Tọa đàm "Khát vọng bảo vệ nền độc lập và thống nhất non sông": Những ký ức "hoa lửa" thắp sáng tình yêu Tổ quốc

Đây là tọa đàm thứ hai trong chuỗi hoạt động “Tự hào diến bước dưới ánh sáng cờ Đảng soi đường” do Báo Nhân Dân và các đơn vị liên quan tổ chức.

Tiếng lòng người nhạc sĩ "Tiến bước dưới quân kỳ"

Mở đầu buổi tọa đàm, Đại tá, nhạc sĩ Doãn Nho, tác giả ca khúc bất hủ “Tiến bước dưới quân kỳ”, đã dẫn dắt khán giả trở về năm 1954, khi ông mới 21 tuổi và trực tiếp tham gia phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Kỷ niệm đáng nhớ nhất đối với ông là những năm tháng công tác ở tuyến 2 – vùng An toàn khu Định Hóa, Thái Nguyên, nơi Bác Hồ chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp và là điểm dừng chân của các đoàn quân đi, về từ Điện Biên.

Nhạc sĩ Doãn Nho chia sẻ về hoàn cảnh ra đời ca khúc “Tiến bước dưới quân kỳ” vào năm 1958. Khi đó, ông được giao nhiệm vụ đi tiền trạm cho đoàn ca múa quân đội tại Điện Biên Phủ.

Đứng tại chân đồi A1, nhìn những bậc thang dẫn lên nghĩa trang và nhớ lại hình ảnh bộ đội ta đã đào kín đồi để đặt thuốc nổ, nhiều người đã hy sinh, ông không cầm được nước mắt.

“Chúng ta đã hy sinh rất lớn mới có được chiến thắng” – nhạc sĩ Doãn Nho bồi hồi nhớ lại, rồi cất tiếng hát những câu đầy xúc động: “Bước từng bậc/ Nhớ từng người/ Lòng đau đớn/ Uất ức/ Căm hờn/ Thù này phải trả/ Đồng chí ta ơi”.

Bài hát đã khắc họa hình ảnh những cựu chiến binh dày dạn kinh nghiệm cùng thế hệ tân binh tiếp bước dưới quân kỳ, thể hiện sự nối tiếp không ngừng của các thế hệ trong bảo vệ Tổ quốc. Sau này, ca khúc đã được Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam chọn là một trong 10 nhạc phẩm truyền thống của quân đội ta.

Kỳ tích "Điện Biên Phủ trên không" và trí tuệ Việt Nam

Đại tá Nguyễn Đình Kiên, Anh hùng Lực lượng vũ trang, người từng bắn rơi 4 máy bay B52 trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (tháng 12/1972), đã kể lại những câu chuyện đầy kịch tính về bộ đội tên lửa. Ông hóm hỉnh cho biết, những chiến sĩ tên lửa khi đó hầu hết là người "chân đất", mới học hết lớp 7, nhưng dưới sự huấn luyện của chuyên gia Liên Xô, họ đã vượt qua thách thức, nắm vững khoa học và thành thạo thao tác sử dụng tên lửa. Mặc dù nước ngoài cho rằng cần một năm để huấn luyện đội ngũ tinh nhuệ đánh thắng không quân Mỹ, nhưng người lính của ta đã học ngày đêm và đánh thắng ngay trận đầu vào ngày 4/7/1965, bắn rơi chiếc F4 đầu tiên sau chỉ 3 tháng huấn luyện.

Để bảo vệ bầu trời Hà Nội trong trận “Điện Biên Phủ trên không”, bộ đội tên lửa đã chủ động nghiên cứu cách đánh B52 từ năm 1967, theo lời căn dặn của Bác Hồ: “Sớm muộn gì đế quốc Mỹ cũng đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua... Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ, chuẩn bị…”.

Một Trung đoàn tên lửa đã hành quân ròng rã 6 tháng vào Vĩnh Linh để nghiên cứu phương án đánh B52, chấp nhận những hy sinh lớn lao. Từ những nghiên cứu xương máu đó, cuốn sách “Cách đánh B52” ra đời và được phổ biến rộng rãi, trở thành "bảo bối" của quân đội Việt Nam, sau này được vinh danh với Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Đại tá Nguyễn Đình Kiên tự hào chia sẻ: “Khi B52 tập kích vào Hà Nội, tên lửa của chúng ta đàng hoàng “tiếp đón” chu đáo. Lực lượng phòng không có 13 tiểu đoàn bắn rơi 29 B52 Mỹ, trong đó có 16 rơi tại chỗ. Mỹ công nhận thất bại của họ”.

Ông kể chi tiết về trận đánh ngày 21/12/1972 tại Đông Anh, Hà Nội, khi chỉ trong 10 phút, bộ đội tên lửa đã bắn rơi 2 B52, tạo nên chiến công xuất sắc. Với trí tuệ Việt Nam, các chiến sĩ đã tìm ra cách giải nhiễu đội hình B52, phân biệt mục tiêu dựa trên tốc độ ổn định và trọng lượng của B52, nhờ tài liệu từ Quân khu 4. Chiến thắng lịch sử này đã đập tan 30 cuộc tập kích của không quân Mỹ, bắn rơi vũ khí chiến lược hàng đầu của họ, tạo ra những tiền đề quan trọng để chúng ta tiến tới giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, thể hiện trí tuệ và kỳ tích của quân đội nhân dân Việt Nam.

Khoảnh khắc "vinh quang nhất cuộc đời" tại Dinh Độc Lập

Tiếp nối dòng hồi tưởng hào hùng, Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên, pháo thủ số 1 xe tăng 390, đã chia sẻ cảm xúc vẹn nguyên về “vòng cua lịch sử” húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Khoảnh khắc đó, 50 năm đã trôi qua, vẫn là “ký ức và kỷ niệm không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi, là kỷ niệm đẹp của cá nhân tôi nói riêng và tuổi trẻ thời đại chúng tôi nói chung khi được góp phần nhỏ bé vào chiến thắng của quân và dân ta”.

image-1-.jpg

Ông nhấn mạnh, trong chiến dịch mùa Xuân 1975, tất cả các lực lượng đều quán triệt cao nhất chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Đó chính là "kim chỉ nam" để các cánh quân đánh thẳng vào sào huyệt kẻ thù. Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên bày tỏ niềm tự hào về thế hệ mình và tin tưởng vào thế hệ hôm nay, tương lai sẽ không ngừng giữ vững khí phách, tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai trong công cuộc dựng xây đất nước”.

"Vũ khí văn hóa" và Trí tuệ Việt Nam – Sức mạnh đặc biệt

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, đã mang đến một góc nhìn sâu sắc về “binh chủng đặc biệt” trong kháng chiến – binh chủng của những người làm văn hóa nghệ thuật. Ông khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Bên cạnh đường lối chính trị, quân sự đúng đắn và sức mạnh vũ khí, thắng lợi của dân tộc Việt Nam còn có sự góp sức không hề nhỏ của “vũ khí văn hóa”.

Đề cương văn hóa năm 1943 do Bác Hồ khởi thảo đã đặt ra nguyên tắc: dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa, hướng văn hóa phục vụ đại chúng. Năm 1946, trong bối cảnh nguy nan, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì hội nghị văn hóa toàn quốc, xác định văn hóa phải tham gia vào công cuộc kháng chiến kiến quốc và "soi đường cho quốc dân đi".

Các khẩu hiệu “Kháng chiến hóa văn hóa” và “Văn hóa hóa kháng chiến” đã trở thành kim chỉ nam hành động, thôi thúc nhiều thế hệ văn nghệ sĩ dấn thân vào khói lửa chiến tranh, cùng quân và dân đánh giặc. Những bài thơ của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi hay ca khúc của Doãn Nho, Phạm Tuyên, Văn Cao đã là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn cho cả tiền tuyến và hậu phương.

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ nhấn mạnh: “Trong những vũ khí giúp dân tộc Việt Nam đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có một thứ vũ khí đặc biệt, đó là trí tuệ Việt Nam, văn hóa Việt Nam và bản lĩnh Việt Nam”.

Ông dẫn chứng câu chuyện Bác Hồ đã thuyết phục các trí thức Việt kiều như ông Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa) chuyên về chế tạo vũ khí, hay ông Võ Quý Huân chuyên về tạo gang thép trở về nước giúp Tổ quốc. Chỉ sau 5 ngày về nước, ông Trần Đại Nghĩa đã nghiên cứu và chế tạo thành công súng Bazooka với sức công phá lớn, khiến địch kinh ngạc về khả năng chế tạo vũ khí của ta.

Kết thúc tọa đàm, các khán giả đã ra về với những cảm xúc lắng đọng, thêm hiểu về những hy sinh xương máu và cống hiến quên mình của thế hệ đi trước. Từ đó, mỗi người cảm nhận sâu sắc hơn giá trị của độc lập, tự do hôm nay để thêm yêu Tổ quốc, thêm khát vọng cống hiến, cùng nhau xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng phát triển thịnh vượng.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Tọa đàm "Khát vọng bảo vệ nền độc lập và thống nhất non sông": Những ký ức "hoa lửa" thắp sáng tình yêu Tổ quốc
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO