Giá tiêu bật tăng tới 4.000 đồng/kg, giữ vững vùng 141.000 đồng/kg
Hồ tiêu là một trong những mặt hàng có biến động đáng chú ý nhất tuần qua. Trong ba phiên đầu tuần, thị trường gần như đứng yên, với giá thu mua tại các vùng sản xuất trọng điểm duy trì trong khoảng 135.000 - 137.000 đồng/kg.
Bước ngoặt xuất hiện trong phiên 10/9 khi giá tiêu đồng loạt tăng từ 2.000 - 4.000 đồng/kg. Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tăng mạnh nhất 4.000 đồng/kg lên 141.000 đồng/kg; Đắk Lắk tăng 3.500 đồng/kg lên 140.000 đồng/kg. Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 2.500 đồng/kg lên 137.500 đồng/kg, còn Gia Lai và Đồng Nai cùng tăng 2.000 đồng/kg lên 137.000 đồng/kg.
Sau nhịp tăng mạnh, thị trường nhanh chóng chuyển sang trạng thái ổn định. Đến ngày 13/9, giá tiêu đã đi ngang ba ngày liên tiếp, duy trì trong mức giá cao.

Trên thị trường thế giới, biến động trong tuần không lớn. Cuối tuần, tiêu đen Indonesia ở mức 6.936 USD/tấn, Brazil 5.750 USD/tấn và Malaysia 9.300 USD/tấn. Tiêu đen xuất khẩu Việt Nam tiếp tục dao động 5.990 - 6.050 USD/tấn.
Việc giá không giảm trở lại sau phiên tăng mạnh cho thấy mặt bằng 137.000 - 141.000 đồng/kg đang tạm thời được củng cố. Trong những phiên tới, khả năng tăng tiếp sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào lực mua và nhu cầu xuất khẩu, bởi thị trường thế giới hiện chưa tạo thêm động lực rõ rệt.
Giá heo hơi hạ nhiệt, mốc 60.000 đồng/kg biến mất
Trái với hồ tiêu, thị trường heo hơi chuyển từ trạng thái tích cực đầu tuần sang giảm nhẹ về cuối tuần.
Ngày 7/9, miền Bắc vẫn có Hà Nội, Hưng Yên, Thái Nguyên và Phú Thọ cùng giao dịch ở mức 60.000 đồng/kg, cao nhất cả nước. Miền Trung - Tây Nguyên phổ biến 57.000 - 58.000 đồng/kg, trong khi phần lớn địa phương miền Nam đứng ở 58.000 đồng/kg.
Sau vài phiên ổn định, áp lực giảm bắt đầu xuất hiện. Ngày 11/9, Hà Nội, Thái Nguyên và Phú Thọ cùng giảm 1.000 đồng/kg, khiến Hưng Yên trở thành địa phương duy nhất còn giữ mức 60.000 đồng/kg.
Đến ngày 12/9, Hưng Yên tiếp tục giảm 1.000 đồng/kg, cùng với Cao Bằng và Lạng Sơn. Mốc 60.000 đồng/kg vì vậy chính thức biến mất khỏi thị trường.Khép lại tuần ngày 13/9, thị trường đồng loạt đi ngang.

Diễn biến tuần qua cho thấy đà phục hồi của heo hơi chưa đủ mạnh để duy trì vùng 60.000 đồng/kg. Việc giá đồng loạt chững lại vào cuối tuần có thể là dấu hiệu thị trường đang tìm điểm cân bằng mới, song áp lực giảm vẫn cần được theo dõi nếu sức mua không cải thiện.
Cao su tăng mạnh đầu tuần, đảo chiều về cuối tuần
Cao su trải qua một tuần biến động khá mạnh. Ngay phiên 7/9, cao su tự nhiên tháng 9 trên SHFE tăng 2,12% lên 18.295 Nhân dân tệ/tấn, trong khi TSR20 tháng 10 trên SGX tăng 1,63% lên 236,50 Cent/kg.
Đà tăng tiếp tục được mở rộng trong các phiên sau. Ngày 9/9, TSR20 tháng 10 tại Singapore tăng tới 4,48%, đạt 244,90 Cent/kg; kỳ hạn tháng 11 tăng 4,58% lên 244,10 Cent/kg. Đến ngày 10/9, hợp đồng tháng 10 tiếp tục lên 249,90 Cent/kg.
Tuy nhiên, xu hướng thay đổi từ ngày 11/9 khi các kỳ hạn tại Singapore quay đầu giảm. Áp lực bán mạnh hơn trong hai phiên cuối tuần. Ngày 13/9, cao su tự nhiên tháng 9 trên SHFE giảm 0,89% xuống 18.400 Nhân dân tệ/tấn, tháng 10 giảm 0,87% xuống 18.320 Nhân dân tệ/tấn. TSR20 tháng 10 tại SGX giảm 2,03% còn 241 Cent/kg, kỳ hạn tháng 11 giảm 2,09% xuống 239,40 Cent/kg.
Trái với thị trường thế giới, giá thu mua cao su trong nước gần như không thay đổi trong tuần. Bình Long duy trì 540 đồng/độ TSC/kg tại nhà máy; MangYang khoảng 458 - 463 đồng/TSC; Phú Riềng và Cao su Bà Rịa quanh 420 đồng/TSC.
Cao su đã không duy trì được đà tăng mạnh của nửa đầu tuần khi lực bán quay trở lại tại SHFE và SGX. Những phiên tới, thị trường có thể tiếp tục giằng co, đặc biệt khi diễn biến giữa Nhật Bản với Trung Quốc và Singapore vẫn chưa đồng thuận.
Giá gạo giảm nhẹ trong tuần, cuối tuần xuất hiện nhịp hồi
Thị trường gạo tuần qua nhìn chung trầm lắng hơn các mặt hàng khác. Đầu tuần, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 và CL 555 cùng dao động 8.700 - 8.800 đồng/kg. Gạo OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Ngày 8/9, IR 504 và CL 555 cùng giảm 50 đồng/kg xuống 8.650 - 8.750 đồng/kg. Đến ngày 11/9, hai loại này tiếp tục giảm, còn 8.650 - 8.700 đồng/kg.
Thị trường xuất khẩu cũng chịu áp lực. So với đầu tuần, gạo thơm 5% tấm giảm xuống 445 - 450 USD/tấn, gạo thơm 100% tấm còn 367 - 371 USD/tấn; Jasmine giữ ở 534 - 538 USD/tấn.
Đến ngày 13/9, thị trường xuất hiện tín hiệu hồi nhẹ ở gạo nguyên liệu CL 555 khi tăng 50 đồng/kg lên 8.700 - 8.750 đồng/kg. IR 504 vẫn ở 8.650 - 8.700 đồng/kg; OM 5451 giữ 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 ở 8.700 - 8.850 đồng/kg và Đài Thơm 8 ở 9.200 - 9.400 đồng/kg.

Tại thị trường bán lẻ, giá gần như không thay đổi trong tuần. Nàng Nhen duy trì 28.000 đồng/kg; Hương Lài và gạo Nhật 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg.
Nhịp tăng nhẹ của CL 555 cuối tuần mới chủ yếu mang tính cục bộ, chưa đủ đảo ngược xu hướng giảm nhẹ của nhóm gạo nguyên liệu trong tuần. Thời gian tới, giá có thể tiếp tục dao động trong biên độ hẹp khi giao dịch tại Đồng bằng sông Cửu Long vẫn chậm, trong khi giá xuất khẩu chưa lấy lại mặt bằng đầu tuần.
