Thị trường Mỹ liên tục bị "soán ngôi"
Việc thuế quan từ Mỹ biến động đã khiến dòng đơn đặt hàng từ khách hàng lớn nhất của nhiều nền kinh tế trên thế giới trở nên thất thường.
Trong bối cảnh như vậy, các nhà xuất khẩu Việt Nam đang nỗ lực đa dạng hóa đầu ra sản phẩm sang các thị trường khác.
Theo Nikkei, từ cuối năm 2025, Trung Quốc đã vươn lên trở thành nhà mua thủy sản lớn nhất của Việt Nam, trở thành thị trường đầu tiên tiêu thụ hơn 1 tỷ USD mặt hàng tôm Việt Nam trong một năm.
Hải sản Minh Phú, nhà xuất khẩu tôm lớn nhất Việt Nam, đã mở thêm các công ty con tại Canada và Úc khi các thị trường này, cùng với Nhật Bản, gia tăng nhập khẩu.

Trung Quốc, Canada, Úc và Nhật Bản, cùng với Việt Nam, đều là thành viên của một hoặc cả 2 khối thương mại lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương được thành lập trong những năm gần đây: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).
Đối với các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam, các hiệp định này đảm bảo tính ổn định tương đối và tiếp cận thị trường ưu đãi hấp dẫn hơn.
Nhiều cam kết giảm thuế quan của các nước ký kết RCEP và CPTPP đang dần có hiệu lực.
Các thỏa thuận khu vực đã có tác động đặc biệt đáng kể đến thương mại giữa các quốc gia. RCEP, Trung Quốc cam kết giảm thuế suất 1,9%/năm đối với mặt hàng rượu sake nhập khẩu từ Nhật Bản, so với mức 40% trước đây, cho đến khi mức thuế về 0% vào năm 2042.
Điều này đã mang lại sự thúc đẩy đáng kể cho Hananomai Brewing, một nhà sản xuất rượu sake có trụ sở tại Hamamatsu, miền trung Nhật Bản, giúp giảm bớt tác động của thuế quan cao hơn từ Mỹ.
"Hiện tại, chúng tôi đang bù đắp sự sụt giảm xuất khẩu sang Mỹ bằng cách tăng xuất khẩu sang Trung Quốc", Giám đốc bán hàng Shinnosuke Takada cho biết, lưu ý rằng Mỹ và Trung Quốc là các thị trường lớn nhất của họ.
Bên cạnh đó, theo dữ liệu do Kazunobu Hayakawa - nhà nghiên cứu cấp cao tại tổ chức tư vấn Viện Kinh tế Phát triển có liên kết với Tổ chức Thương mại Quốc tế Nhật Bản - tổng hợp, 58% hàng nhập khẩu chịu thuế của Nhật Bản từ Trung Quốc năm ngoái đã sử dụng các ưu đãi thương mại của RCEP.
Trước khi có CPTPP, Mexico đã áp thuế 115% đối với lúa mạch nhập khẩu từ Úc.
Với sự ra đời của CPTPP, Úc đã thay thế Mỹ trở thành nhà cung cấp lúa mạch chủ đạo của Mexico, và mặt hàng này đã trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Úc sang Mexico.
Việc giảm thuế quan đối với thịt bò và rượu vang của Mexico cũng đã thúc đẩy nhập khẩu từ Úc.
Sự quan tâm mới từ các thị trường khác

Triển vọng về những lợi ích lớn hơn trong tương lai đã thu hút sự quan tâm từ các nước khác.
Trong năm qua, Philippines, Campuchia, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Argentina đã lần lượt nộp đơn xin gia nhập CPTPP, cùng với danh sách chờ bao gồm Trung Quốc, Indonesia, Ecuador và Ukraine…; Costa Rica và Uruguay dự kiến sẽ sớm được chấp nhận với tư cách là những thành viên mới đầu tiên của khối kể từ khi Anh gia nhập nhóm 11 thành viên ban đầu vào năm 2024.
Trong khi đó, Bangladesh, Sri Lanka và Chile đã nộp đơn xin gia nhập câu lạc bộ RCEP.
Bộ trưởng Ngoại giao kiêm Phó Thủ tướng Thái Lan Sihasak Phuangketkeow phát biểu tại diễn đàn Tương lai châu Á của Nikkei ở Tokyo tháng trước cho rằng, thuế quan từ một trong những thị trường lớn nhất khiến các nước phải cân nhắc các thỏa thuận thương mại khu vực và xuyên khu vực.
Trong một cuộc phỏng vấn riêng, ông Sihasak cho biết Thái Lan, một thành viên sáng lập RCEP, đang hướng tới nộp đơn xin gia nhập CPTPP.
"CPTPP có một số nền kinh tế lớn. Nếu không bắt kịp, chúng ta sẽ lỡ chuyến tàu", ông nói.
"CPTPP là một điểm tựa vững chắc trong môi trường thương mại toàn cầu đầy biến động," ông Arnold Jorge, giám đốc điều hành của Hội đồng Xuất khẩu Úc, đại diện cho các công ty tham gia thương mại quốc tế, cho biết.
"Nó duy trì các quy tắc chất lượng cao và mang lại cho Úc và các đối tác một giải pháp thiết thực để đa dạng hóa và giảm thiểu rủi ro", ông nói thêm.
Cả hai hiệp định cũng đã bắt đầu định hình lại chuỗi cung ứng. "Đối với các công ty, điểm mạnh là có một chuỗi cung ứng hoạt động theo một tập hợp các cam kết", ông Ken Itakura, giáo sư kinh tế tại Đại học Thành phố Nagoya của Nhật Bản cho biết.
Tuy vậy, đại dịch COVID-19, bắt đầu khoảng một năm sau khi CPTPP được ký kết và vẫn đang diễn ra khi RCEP được thành lập, đã làm lu mờ tác động của các hiệp định này.
"Điều đó đã tạo ra những thách thức nghiêm trọng về dữ liệu", bà Deborah Elms, người đứng đầu chính sách thương mại tại tổ chức tư vấn Hinrich Foundation có trụ sở tại Singapore, cho biết, đồng thời nói thêm rằng đại dịch cũng đã làm gián đoạn các kế hoạch thúc đẩy việc sử dụng hiệp định đối với các công ty trong khu vực.
Tuy nhiên, mặc dù tác động vĩ mô của các hiệp định thương mại cho đến nay vẫn còn hạn chế, nhưng các nhà quan sát như Denise Cheok, người đứng đầu bộ phận kinh tế Đông Nam Á của Moody's Analytics tại Singapore, cho rằng nhiều tác động hơn có thể xuất hiện sau này.
"Lợi ích của các hiệp định thương mại," bà nói, "thường mất nhiều năm để được hiện thực hóa, ngay cả trong những điều kiện tốt nhất."

