Doanh nghiệp Mỹ mua rất nhiều đất hiếm từ Việt Nam: Chọn cơ hội tốt, không thành "ốc đảo FDI"

Hoàng Hạnh | 21:00 27/07/2026

Việt Nam cần tránh khai thác đất hiếm quá nhanh khi năng lực chế biến, giám sát môi trường và thị trường đầu ra chưa sẵn sàng.

Doanh nghiệp Mỹ mua rất nhiều đất hiếm từ Việt Nam: Chọn cơ hội tốt, không thành "ốc đảo FDI"
Quy mô thị trường nguyên tố đất hiếm toàn cầu dự kiến sẽ tăng từ 4,54 tỷ USD vào năm 2026 lên 9,89 tỷ USD vào năm 2034

Chưa đầy hai tuần sau khi thỏa thuận giữa Evolution Metals & Technologies Corp (EM&T), doanh nghiệp Mỹ hoạt động trong lĩnh vực vật liệu thiết yếu và sản xuất tiên tiến và SRE Vietnam, công ty con thuộc sở hữu hoàn toàn của tập đoàn Nhật Bản Tokai Trading Co., Ltd được công bố, lô hàng 5 tấn kim loại đất hiếm NdPr từ Việt Nam đã được giao tới đối tác.

Dựa theo kế hoạch nâng sản lượng nam châm đất hiếm của EM&T lên khoảng 10.000 tấn mỗi năm, có thể chắc chắn rằng, sẽ có thêm rất nhiều lô hàng tương tự với khối lượng lớn hơn. Dù SRE Vietnam là một doanh nghiệp FDI có 100% vốn nước ngoài, theo các chuyên gia, đây vẫn là một tín hiệu tích cực cho xuất khẩu khoáng sản của Việt Nam nói chung và cho định hướng biến tài nguyên đất hiếm thành nguồn lực quan trọng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tín hiệu mới mở ra cơ hội cho Việt Nam

Hiện tại, theo quy định, Việt Nam chỉ cho phép xuất khẩu đất hiếm đã tinh chế trên 90% và các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động này đều phải được sự cấp phép của Nhà nước. TS Phan Thanh Chung, Đại học RMIT Việt Nam nhận định, đây là định hướng đúng vì giá trị của đất hiếm chủ yếu nằm ở năng lực tách, tinh chế, luyện kim, sản xuất hợp kim và nam châm.

Theo vị chuyên gia, ngưỡng tinh chế trên 90% nên là điều kiện tối thiểu, không phải đích cuối cùng. Chính sách cần hướng doanh nghiệp tới công đoạn có giá trị cao, tránh động cơ chỉ “đủ chuẩn để xuất khẩu”. Cấp phép phải minh bạch, có thời hạn rõ ràng và dựa trên năng lực công nghệ, tài chính, quản trị môi trường cùng cam kết phục hồi mỏ.

Chiến lược cần kết hợp bốn nhóm giải pháp: dữ liệu địa chất và đấu giá quyền khai thác minh bạch; tiêu chuẩn môi trường nghiêm, giám sát độc lập và trách nhiệm với phục hồi, chất thải, cộng đồng; phát triển công nghiệp hạ nguồn qua nghiên cứu, đào tạo kỹ sư, phòng thí nghiệm, sản xuất kim loại, hợp kim và nam châm.

Việc lựa chọn đối tác dựa trên chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp Việt Nam cùng khả năng tiếp cận thị trường. Tất cả hướng tới mục tiêu không chỉ là tăng sản lượng hay hạn chế xuất khẩu thô, mà là biến tài nguyên hữu hạn thành năng lực công nghiệp lâu dài”, TS Phan Thanh Chung đánh giá.

dh-rmit-ts-phan-thanh-chung.jpg
TS Phan Thanh Chung, Đại học RMIT Việt Nam

Trong bối cảnh này, giảng viên Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, thỏa thuận của doanh nghiệp Mỹ với SRE Vietnam là tín hiệu về một mạng lưới cung ứng đất hiếm mới, kết nối Việt Nam, doanh nghiệp Nhật Bản và thị trường Mỹ. Các bên đang chuyển từ chủ trương “đa dạng hóa” sang giao dịch cụ thể và đối với Việt Nam, đây là cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Mục tiêu 10.000 tấn nam châm mỗi năm cho thấy Mỹ muốn xây dựng chuỗi cung ứng công nghiệp, đòi hỏi nguồn cung ổn định qua nhiều công đoạn: khai thác hoặc thu gom, tách và tinh chế, sản xuất kim loại và hợp kim NdPr, chế tạo nam châm, kiểm định rồi tích hợp vào xe điện, điện gió, điện tử hay quốc phòng.

SRE Vietnam có thể là một mắt xích quan trọng, nhưng tính bền vững vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu hợp pháp, chất lượng và khả năng cung ứng ổn định”, TS Phan Thanh Chung giải thích.

Từ phía SRE Vietnam, theo Tokai Trading, giai đoạn 1 của nhà máy là tái chế đất hiếm, bắt đầu từ năm 2019 với công suất nguồn tái chế 2.000 tấn/năm; giai đoạn 2 mở rộng sang tantalum và niobium; còn giai đoạn 3 hướng tới sản xuất đất hiếm từ quặng Việt Nam.

Như vậy, tái chế là nền tảng năng lực đã có của SRE Vietnam. Việc SRE Vietnam đã nâng cao năng suất xử lý nguyên liệu trung gian chứa đất hiếm lên tới 3939 tấn/năm từ tháng 1/2025 cho thấy doanh nghiệp đang chuẩn bị cho quy mô lớn hơn.

Về dài hạn, mô hình có thể kết hợp nguồn tái chế với quặng khai thác trong nước, với điều kiện quặng được cấp phép, truy xuất hợp pháp và đáp ứng tiêu chuẩn môi trường”, vị chuyên gia về đất hiếm nhận định.

Khi doanh nghiệp cung ứng từ Việt Nam có 100% vốn nước ngoài

Hiện tại, chuỗi cung ứng đất hiếm đang có mức độ tập trung rất cao. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế IEA, năm 2024 Trung Quốc chiếm khoảng 60% sản lượng khai thác đất hiếm dùng cho nam châm, 91% sản lượng tinh chế và 94% sản lượng nam châm vĩnh cửu thiêu kết, loại nam châm vĩnh cửu có hiệu suất mạnh nhất.

rare-earths-chinh.jpg

Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nền kinh tế công nghiệp khác đều đang tìm cách đa dạng hóa nguồn cung khoáng sản chiến lược. Đạo luật Nguyên liệu thô thiết yếu của EU đặt mục tiêu đến năm 2030, năng lực chế biến trong EU đáp ứng ít nhất 40% nhu cầu hằng năm, năng lực tái chế đáp ứng ít nhất 25%, đồng thời không để một quốc gia thứ ba cung cấp quá 65% nhu cầu đối với một nguyên liệu chiến lược tại bất kỳ công đoạn liên quan nào.

EU chủ trương xây dựng các quan hệ đối tác cùng có lợi, vừa đa dạng hóa nguồn cung, vừa gia tăng giá trị tại quốc gia đối tác.Tương tự, chiến lược đất hiếm của Mỹ tập trung vào tự chủ nguồn cung, đa dạng hóa đối tác quốc tế và khai thác tài nguyên thay thế.

Theo Tiến sĩ Vũ Thị Hồng Nhung, Đại học RMIT Việt Nam, bối cảnh hiện nay tạo ra cơ hội đáng kể cho các quốc gia có tiềm năng đất hiếm như Việt Nam và Brazil. IEA đã ghi nhận các dự án khai thác đang được phát triển tại Brazil và năng lực sản xuất nam châm đang được mở rộng tại Việt Nam

Tuy nhiên, vị chuyên gia khẳng định, cơ hội lớn nhất không nhất thiết nằm ở việc tăng khai thác, mà ở khả năng tham gia vào các công đoạn có giá trị cao hơn như tuyển khoáng, tách nguyên tố, sản xuất oxit tinh khiết, kim loại, hợp kim, nam châm và tái chế.

Từ góc độ này, TS Vũ Thị Hồng Nhung cho rằng, đối với Việt Nam, hợp tác với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài như SRE Vietnam chỉ thực sự mang lại kết quả “đôi bên cùng có lợi” khi dự án tạo ra các liên kết thực chất với nền kinh tế trong nước.

Nếu doanh nghiệp FDI nhập nguyên liệu, công nghệ và thiết bị, sau đó xuất toàn bộ sản phẩm mà không sử dụng nhà cung cấp, nhân lực nghiên cứu hoặc doanh nghiệp Việt Nam, dự án có nguy cơ trở thành một “ốc đảo FDI”, tạo doanh thu xuất khẩu nhưng ít lan tỏa về công nghệ.

ts-vu-thi-hong-nhung-rmit.jpg
TS Vũ Thị Hồng Nhung, Đại học RMIT Việt Nam

Vì vậy, cơ chế hợp tác nên bao gồm chương trình phát triển nhà cung cấp Việt Nam; đào tạo kỹ sư và cán bộ quản lý; hợp tác với trường đại học, viện nghiên cứu và phòng thí nghiệm trong nước; chuyển giao quy trình kiểm định, xử lý chất thải và tinh chế; cùng với lộ trình tăng tỷ lệ giá trị được tạo ra tại Việt Nam.

Các ưu đãi về thuế, đất đai hoặc hạ tầng nên gắn với kết quả có thể kiểm chứng như số kỹ sư được đào tạo, chi tiêu nghiên cứu và phát triển, số doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung cấp và mức độ chế biến trong nước”, nữ chuyên gia từ Đại học RMIT Việt Nam khuyến nghị.

Về lâu dài, để chủ động lựa chọn cơ hội, vị TS gợi ý, thứ nhất, Việt Nam cần chuẩn bị một số nền tảng quan trọng: dữ liệu địa chất đáng tin cậy; cơ chế định giá tài nguyên và thu thuế phù hợp; năng lực thẩm định công nghệ và đàm phán hợp đồng; hệ thống truy xuất nguồn gốc; tiêu chuẩn nghiêm ngặt về sử dụng nước, hóa chất, chất thải, phóng xạ và phục hồi môi trường; cùng với cơ chế tham vấn và chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương.

Bên cạnh đó, hệ thống truy xuất nguồn gốc cũng cần được xây dựng như một phần của quy trình thẩm định rủi ro, nhằm theo dõi nguồn gốc, quá trình vận chuyển và chế biến, đồng thời tích hợp thông tin về tác động môi trường, xã hội và quản trị.

Tuy nhiên, hệ thống này phải có dữ liệu đáng tin cậy, cơ chế kiểm chứng độc lập và sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng, thay vì chỉ trở thành một thủ tục hành chính hình thức”, TS Vũ Thị Hồng Nhung lưu ý.

Cuối cùng, theo vị chuyên gia, Việt Nam có thể cân nhắc thành lập một cơ chế điều phối liên ngành về đất hiếm, xây dựng bản đồ chuỗi giá trị quốc gia và xác định rõ các công đoạn chiến lược cần ưu tiên làm chủ, chẳng hạn như tách và tinh chế, sản xuất hợp kim, nam châm, tái chế và kiểm định chất lượng.

Để tự chủ công nghệ

Nhấn mạnh Việt Nam không nên phụ thuộc vào một đối tác duy nhất cho toàn bộ chuỗi giá trị đất hiếm, TS Vũ Thị Hồng Nhung cho rằng, việc xác định rõ các công đoạn chiến lược nêu trên là cơ sở cho việc áp dụng mô hình “danh mục đối tác”.

Theo đó, Việt Nam lựa chọn đối tác phù hợp cho từng công đoạn, từ thăm dò, khai thác, tách và tinh chế đến sản xuất hợp kim, nam châm, tái chế và đào tạo nhân lực. Cách tiếp cận này giúp Việt Nam khai thác thế mạnh công nghệ của từng quốc gia, tạo cạnh tranh giữa các nhà đầu tư và hạn chế hình thành sự phụ thuộc công nghệ mới.

Dù vậy, lợi ích từ mối liên kết trực tiếp giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, phụ thuộc vào năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước, chất lượng nguồn nhân lực và sự phối hợp giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và tổ chức nghiên cứu.

Tự chủ công nghệ không có nghĩa Việt Nam phải ngay lập tức tự thực hiện toàn bộ chuỗi đất hiếm. Mục tiêu thực tế hơn là xây dựng đội ngũ trong nước đủ năng lực để hiểu và lựa chọn công nghệ, đánh giá chi phí, giám sát môi trường, vận hành và bảo dưỡng thiết bị, đàm phán hợp đồng và từng bước làm chủ những công đoạn chiến lược”, vị chuyên gia khuyến nghị.

TS Vũ Thị Hồng Nhung lưu ý thêm, Việt Nam cũng cần tránh khai thác quá nhanh khi năng lực chế biến, giám sát môi trường và thị trường đầu ra chưa sẵn sàng.

Đất hiếm là tài nguyên hữu hạn, trong khi giá cả, công nghệ và quan hệ thương mại quốc tế có thể thay đổi nhanh. Do đó, quy mô khai thác nên được xác định trên cơ sở trữ lượng được kiểm chứng, hiệu quả kinh tế, khả năng chế biến sâu trong nước và nhu cầu phát triển dài hạn”, nữ giảng viên Đại học RMIT Việt Nam kết luận.


(0) Bình luận
Doanh nghiệp Mỹ mua rất nhiều đất hiếm từ Việt Nam: Chọn cơ hội tốt, không thành "ốc đảo FDI"
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO