Theo phân tích dữ liệu của Nikkei, khoảng một nửa số tàu chở dầu thô từ Trung Đông đến Nhật Bản trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 5 đã nhận hàng thông qua hình thức chuyển tải giữa tàu với tàu. Hoạt động này chủ yếu diễn ra ngoài khơi Malaysia và Ấn Độ.
Kể từ khi xung đột bùng phát vào cuối tháng 2, các tàu Nhật Bản gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận các cảng xuất khẩu dầu lớn nằm dọc Vịnh Ba Tư qua eo biển Hormuz.
Việc tuyến hàng hải chiến lược này bị phong tỏa khiến nhiều phương án vận chuyển truyền thống gần như tê liệt. Các lựa chọn thay thế như sử dụng cảng ở Vịnh Oman hoặc Biển Đỏ cũng bị đánh giá là tiềm ẩn rủi ro cao.
Nhật Bản hiện phụ thuộc khoảng 95% lượng dầu thô nhập khẩu từ Trung Đông. Trong điều kiện bình thường, các tàu Nhật Bản sẽ vận chuyển trực tiếp dầu từ Trung Đông về nội địa.
Tuy nhiên, khi chiến sự leo thang, các doanh nghiệp Nhật đã giao phần hành trình nguy hiểm cho các tàu nước ngoài đảm nhiệm. Tàu Nhật Bản chỉ tiếp nhận dầu ở những khu vực an toàn hơn tại châu Á để đưa hàng về nước.
Theo dữ liệu từ MarineTraffic, nhiều công ty vận tải biển đến từ Hy Lạp và các nước châu Á đang tăng cường hoạt động giữa Trung Đông và châu Á nhằm tận dụng mức phí thuê tàu cao.
Một lãnh đạo doanh nghiệp vận tải biển Nhật Bản cho biết các chủ tàu nước ngoài sẵn sàng chấp nhận rủi ro nếu được trả khoản phí đủ lớn. Trong khi đó, doanh nghiệp Nhật Bản chỉ cho phép tàu hoạt động khi đánh giá được mức độ an toàn phù hợp.
Dữ liệu từ công ty nghiên cứu Kpler cho thấy từ tháng 3 đến nay đã có 68 tàu chở dầu hướng về Nhật Bản. Trong số này, có 15 tàu thực hiện phương pháp chuyển tải dầu sang tàu khác tại vùng biển châu Á.
Nếu tính cả một tàu đã dừng ngoài khơi bờ biển Hàn Quốc để nhận dầu thô được vận chuyển từ Panama, số vụ chuyển dầu giữa các tàu như vậy cao gấp 9 lần so với mức trung bình hàng quý trong 5 năm qua.

Ước tính, hối lượng dầu thô Trung Đông được vận chuyển thông qua hình thức này đạt khoảng 24,7 triệu thùng, tương đương hơn 20% tổng lượng dầu Nhật Bản nhập khẩu kể từ khi khủng hoảng eo biển Hormuz bắt đầu.
Một trường hợp điển hình là tàu chở dầu Eneos Dream thuộc tập đoàn Eneos Holdings. Theo Kpler, tàu này đã tiếp cận một tàu chở dầu Hàn Quốc gần eo biển Malacca vào khoảng ngày 21/4 để nhận khoảng 1,8 triệu thùng dầu thô từ Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Sau đó, Eneos Dream vận chuyển số dầu này về Nhật Bản và cập cảng tại Oita vào đầu tháng 5 trước khi tiếp tục phân phối đến Kawasaki.
Phó chủ tịch cấp cao Yasunori Yazaki cho biết công ty đang tích cực tận dụng hình thức trung chuyển ngoài khơi nhằm khai thác tối đa đội tàu hiện có. Theo ông, đây là giải pháp phù hợp trong bối cảnh việc vận hành tàu Nhật Bản trực tiếp vào khu vực Trung Đông gặp quá nhiều rủi ro.
Việc chuyển dầu giữa hai tàu trên biển bằng hệ thống ống dẫn thường kéo dài từ hai đến ba ngày và phát sinh thêm chi phí khoảng 100.000 USD cho mỗi giao dịch. Dù vậy, các doanh nghiệp Nhật Bản cho rằng phương án này vẫn rẻ hơn đáng kể so với nhập khẩu dầu từ Mỹ.
Hiện nay, dầu từ Mỹ phải mất từ 50 đến 55 ngày để đến Nhật Bản nếu đi qua Mũi Hảo Vọng ở Nam Phi. Trong khi đó, dầu từ Trung Đông thông qua trung chuyển giữa chừng chỉ mất khoảng 25 ngày để cập cảng Nhật Bản.
Ông Yasuhiro Funaki, giám đốc điều hành của Taiyo Oil, cho biết công ty đã sử dụng phương thức này để vận chuyển dầu thô từ ngoài khơi Malaysia về nhà máy lọc dầu tại tỉnh Ehime từ tháng 3. Ông nhận định đây sẽ tiếp tục là giải pháp quan trọng cho đến khi eo biển Hormuz ổn định trở lại.
Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng đây vẫn chỉ là biện pháp tạm thời. Nếu các cảng xuất khẩu hoặc hệ thống đường ống dẫn dầu tại Ả Rập Xê Út và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất tiếp tục bị ảnh hưởng bởi xung đột, ngay cả những tuyến vận chuyển thay thế hiện nay cũng có nguy cơ bị gián đoạn nghiêm trọng.
