Theo khoản 1 Điều 66 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/9/2026. Đồng thời, khoản 4 Điều 66 quy định Nghị định 12/2022/NĐ-CP ngày 17/1/2022 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định 283/2026/NĐ-CP có hiệu lực.
Các hành vi vi phạm, mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực BHXH được quy định chủ yếu tại Chương III, từ Điều 43 đến Điều 48 của nghị định. Phạm vi điều chỉnh không chỉ bao gồm BHXH bắt buộc mà còn có bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hồ sơ hưởng chế độ và các hành vi liên quan đến sổ BHXH.
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền quy định tại Chương III về nguyên tắc là mức phạt đối với cá nhân, trừ khoản 6, 11 Điều 48; còn mức phạt đối với tổ chức bằng hai lần mức phạt đối với cá nhân.
Khoản 3 Điều 7 cũng quy định hộ kinh doanh và hộ gia đình có hành vi vi phạm bị xử phạt như đối với cá nhân.
Các mức phạt chậm, trốn đóng BHXH
Khoản 2 Điều 43 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt người sử dụng lao động không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia BHXH bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn đăng ký. Quy định này cũng áp dụng đối với trường hợp đã quá 60 ngày nhưng hành vi thuộc trường hợp pháp luật xác định chưa bị coi là trốn đóng BHXH bắt buộc.
Mức phạt được xác định theo số lượng người lao động bị vi phạm. Đối với cá nhân và hộ kinh doanh, mức thấp nhất là từ 5–10 triệu đồng khi vi phạm dưới 10 người lao động, còn mức cao nhất từ 60–75 triệu đồng khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.
| Số người lao động bị vi phạm | Mức phạt đối với người sử dụng lao động |
|---|---|
| Dưới 10 người | 5–10 triệu đồng |
| Từ 10 đến dưới 50 người | 10–15 triệu đồng |
| Từ 50 đến dưới 100 người | 15–20 triệu đồng |
| Từ 100 đến dưới 300 người | 20–30 triệu đồng |
| Từ 300 đến dưới 500 người | 30–40 triệu đồng |
| Từ 500 đến dưới 700 người | 40–50 triệu đồng |
| Từ 700 đến dưới 1.000 người | 50–60 triệu đồng |
| Từ 1.000 người trở lên | 60–75 triệu đồng |
Bên cạnh hành vi không đăng ký hoặc đăng ký thiếu người tham gia, khoản 3 Điều 43 quy định phạt từ 12% đến 15% tổng số tiền chậm đóng BHXH bắt buộc tại thời điểm lập biên bản. Mức phạt tối đa đối với cá nhân là 75 triệu đồng, còn khi chủ thể vi phạm là tổ chức, mức phạt có thể lên tới 150 triệu đồng theo nguyên tắc tại khoản 1 Điều 7.
Các hành vi thuộc khoản 3 Điều 43 gồm chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc đã đăng ký kể từ sau ngày đóng chậm nhất. Trường hợp không đóng hoặc đóng không đầy đủ sau 60 ngày, đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc nhưng thuộc trường hợp chưa bị coi là trốn đóng, người sử dụng lao động cũng bị xử phạt theo tỷ lệ trên.
Khoản 1 Điều 43 còn quy định cảnh cáo đối với các hành vi tại khoản 3 Điều này nếu số tiền vi phạm tại thời điểm lập biên bản dưới 400.000 đồng. Dù chỉ bị cảnh cáo, người sử dụng lao động vẫn phải thực hiện đầy đủ các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Cụ thể, khoản 4 Điều 43 buộc người sử dụng lao động lập hoặc hoàn thiện hồ sơ đăng ký cho người lao động, đồng thời đóng đủ số tiền BHXH bắt buộc chậm đóng. Ngoài ra, doanh nghiệp phải nộp thêm khoản tiền bằng 0,03% mỗi ngày, tính trên số tiền và số ngày chậm đóng, vào quỹ BHXH.
Đối với hành vi trốn đóng BHXH bắt buộc, khoản 1 Điều 44 quy định xử phạt người sử dụng lao động không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết hạn đăng ký. Mức phạt cũng được xác định theo số lượng người lao động bị vi phạm, nhưng cao hơn so với nhóm hành vi chậm đóng tại Điều 43.
Nếu vi phạm dưới 10 người lao động, mức phạt đối với cá nhân và hộ kinh doanh là từ 6–12 triệu đồng; trường hợp vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên, mức phạt là từ 70–75 triệu đồng. Khi chủ thể vi phạm là tổ chức, các mức này được nhân đôi, tương ứng mức phạt cao nhất có thể lên tới 150 triệu đồng.
Khoản 2 Điều 44 quy định phạt từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng BHXH bắt buộc đối với người sử dụng lao động đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng BHXH thấp hơn mức pháp luật quy định. Mức phạt này cũng được áp dụng khi người sử dụng lao động không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký sau 60 ngày, đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc nhưng vẫn không thực hiện và hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Mức phạt theo khoản 2 Điều 44 không vượt quá 75 triệu đồng đối với cá nhân và có thể lên tới 150 triệu đồng đối với tổ chức. Ngoài tiền phạt, khoản 3 Điều 44 buộc người sử dụng lao động đăng ký đầy đủ số người phải tham gia, đóng đủ số tiền trốn đóng và nộp thêm 0,03% mỗi ngày trên số tiền và số ngày trốn đóng.
Làm giả hồ sơ hưởng BHXH bị phạt theo từng hồ sơ
Khoản 2 Điều 47 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định phạt từ 10–20 triệu đồng đối với mỗi hồ sơ hưởng BHXH hoặc bảo hiểm thất nghiệp có gian lận, giả mạo. Quy định áp dụng đối với người sử dụng lao động làm giả hồ sơ hưởng chế độ hoặc cố ý làm sai lệch thông tin, tài liệu trong hồ sơ nhưng hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tổng mức phạt đối với cá nhân không vượt quá 75 triệu đồng, còn đối với tổ chức có thể lên tới 150 triệu đồng theo khoản 1 Điều 7. Khoản 4 Điều 47 đồng thời buộc bên vi phạm nộp lại cho cơ quan BHXH số tiền BHXH, trợ cấp thất nghiệp hoặc khoản hỗ trợ đã nhận do thực hiện hành vi gian lận, giả mạo.
Trường hợp người sử dụng lao động không lập danh sách, không lập hồ sơ hoặc không nộp hồ sơ giải quyết chế độ đúng thời hạn, khoản 3 Điều 47 quy định mức phạt từ 2–4 triệu đồng đối với mỗi người lao động. Tổng mức phạt tối đa là 75 triệu đồng đối với cá nhân và có thể lên tới 150 triệu đồng nếu người sử dụng lao động là tổ chức.
Người lao động kê khai gian dối có thể bị phạt tới 2 triệu đồng
Không chỉ người sử dụng lao động, người lao động trực tiếp kê khai gian dối để đóng hoặc hưởng BHXH cũng có thể bị xử phạt. Theo điểm a khoản 1 Điều 47, người lao động kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa làm sai lệch nội dung liên quan đến việc đóng, hưởng BHXH hoặc bảo hiểm thất nghiệp sẽ bị phạt từ 1–2 triệu đồng nếu hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ngoài tiền phạt, khoản 4 Điều 47 buộc người lao động nộp lại cho cơ quan BHXH số tiền đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm. Số tiền phải hoàn trả có thể gồm tiền BHXH, trợ cấp thất nghiệp hoặc các khoản hỗ trợ liên quan đã được chi trả không đúng quy định.
Thỏa thuận với doanh nghiệp để không tham gia BHXH cũng bị xử phạt
Điểm a khoản 2 Điều 48 quy định phạt từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng đối với người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động để không tham gia BHXH bắt buộc hoặc bảo hiểm thất nghiệp. Mức phạt tương tự cũng được áp dụng nếu hai bên thỏa thuận tham gia không đúng đối tượng, không đúng mức hoặc không đúng thời hạn quy định.
Do đó, việc người lao động đồng ý nhận thêm tiền vào lương thay cho khoản đóng BHXH không làm mất nghĩa vụ tham gia nếu quan hệ lao động thuộc diện bắt buộc. Khi bị phát hiện, không chỉ người sử dụng lao động mà chính người lao động tham gia thỏa thuận cũng có thể bị xử phạt.
Điểm b khoản 2 Điều 48 còn quy định phạt từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng đối với người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo điểm m và điểm n khoản 1 Điều 2 Luật BHXH nhưng không đăng ký, đăng ký không đúng thời hạn, chưa đóng hoặc đóng sau thời hạn quy định. Theo điểm b khoản 12 Điều 48, người vi phạm phải đăng ký, đóng đủ số tiền BHXH bắt buộc và nộp thêm 0,03% mỗi ngày trên số tiền phải đóng.
Cầm cố, mua bán sổ BHXH bị phạt đến 6 triệu đồng mỗi sổ
Theo điểm a khoản 7 Điều 48, hành vi cầm cố, mua, bán, thế chấp hoặc đặt cọc sổ BHXH dưới mọi hình thức bị phạt từ 4–6 triệu đồng đối với mỗi sổ. Khoản này đồng thời quy định mức phạt tối đa không quá 75 triệu đồng.
Không chỉ người mang sổ BHXH đi giao dịch bị xử phạt, bên nhận sổ cũng có thể phải chịu chế tài. Điểm b khoản 7 Điều 48 quy định mức phạt tương tự đối với hành vi nhận cầm cố, nhận thế chấp hoặc nhận đặt cọc sổ BHXH dưới mọi hình thức.
Như vậy, nếu hành vi chỉ liên quan đến một sổ BHXH, mức phạt cao nhất là 6 triệu đồng. Mức 75 triệu đồng là giới hạn tối đa được quy định tại khoản 7 Điều 48 khi việc xử phạt được tính theo nhiều sổ BHXH.
Ngoài tiền phạt, điểm e khoản 12 Điều 48 buộc cá nhân hoặc tổ chức nhận cầm cố, nhận thế chấp phải trả lại sổ BHXH cho người lao động. Người vi phạm đồng thời phải nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi này.
Chiếm dụng tiền hưởng BHXH của người lao động có thể bị phạt tới 150 triệu đồng
Khoản 10 Điều 48 quy định phạt từ 18% đến 20% tổng số tiền hưởng BHXH bắt buộc của người lao động mà người sử dụng lao động đã chiếm dụng tại thời điểm lập biên bản. Mức phạt đối với cá nhân không quá 75 triệu đồng và có thể lên tới 150 triệu đồng nếu chủ thể vi phạm là tổ chức.
Ngoài việc bị phạt tiền, điểm i khoản 12 Điều 48 buộc người sử dụng lao động phải hoàn trả cho người lao động toàn bộ số tiền hưởng BHXH bắt buộc đã chiếm dụng. Người sử dụng lao động còn phải trả khoản tiền lãi tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất do các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.
Không trả sổ BHXH hoặc không cung cấp thông tin bị phạt 2-4 triệu đồng
Điểm c khoản 3 Điều 48 quy định phạt từ 2–4 triệu đồng đối với mỗi người lao động nếu người sử dụng lao động không trả sổ BHXH bản giấy khi người lao động yêu cầu theo khoản 1 Điều 13 Luật BHXH. Tổng mức phạt theo quy định đối với cá nhân không quá 75 triệu đồng, còn mức phạt đối với tổ chức được xác định theo nguyên tắc gấp hai lần.
Điểm b khoản 3 Điều 48 cũng quy định mức phạt từ 2–4 triệu đồng đối với mỗi người lao động nếu người sử dụng lao động không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ thông tin BHXH của người lao động khi tổ chức công đoàn yêu cầu. Cùng mức phạt này còn được áp dụng đối với hành vi đóng BHXH bắt buộc cho người không thuộc đối tượng tham gia, theo điểm a khoản 3 Điều 48.
Đối với hành vi không xuất trình hoặc không cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu về việc đóng và hưởng BHXH bắt buộc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khoản 8 Điều 48 quy định mức phạt từ 5–10 triệu đồng. Nếu người sử dụng lao động là tổ chức, mức phạt được nhân đôi theo khoản 1 Điều 7.
Truy cập, khai thác dữ liệu BHXH trái pháp luật bị xử phạt 2-4 triệu đồng
Khoản 4 Điều 48 quy định phạt từ 2–4 triệu đồng đối với hành vi truy cập, khai thác hoặc cung cấp cơ sở dữ liệu về BHXH, bảo hiểm thất nghiệp trái pháp luật. Mức phạt này cũng áp dụng với hành vi đăng ký, báo cáo sai sự thật hoặc cung cấp thông tin không chính xác về BHXH, bảo hiểm thất nghiệp.
Cùng khoản này còn xử phạt hành vi thông đồng, móc nối, bao che hoặc giúp sức cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về BHXH và bảo hiểm thất nghiệp. Nếu chủ thể thực hiện hành vi là tổ chức, mức phạt được xác định bằng hai lần mức phạt đối với cá nhân theo khoản 1 Điều 7.
