Theo dữ liệu theo dõi tàu chở dầu, xuất khẩu dầu thô bằng đường biển của Nga trong 4 tuần tính đến ngày 5/7 đạt trung bình 4,22 triệu thùng/ngày. Đây là mức cao nhất kể từ khi Nga đưa quân vào Ukraine, thời điểm trước đó Moscow còn vận chuyển khoảng 600.000 thùng/ngày qua đường ống tới các nhà máy lọc dầu ở châu Âu.
Động lực chính của làn sóng xuất khẩu này đến từ các cuộc tấn công ngày càng mạnh của Ukraine vào hạ tầng lọc dầu Nga. Trong những tuần gần đây, Kiev mở rộng cả tầm bắn lẫn cường độ tập kích bằng tên lửa và máy bay không người lái, nhắm vào các nhà máy lọc dầu, bồn chứa và đầu mối logistics nhiên liệu.
Nhà máy Norsi của Lukoil, có công suất 340.000 thùng/ngày, đã bị tấn công 2 lần chỉ trong hơn 1 tuần. Nhà máy Omsk, cơ sở lọc dầu lớn nhất nước Nga với công suất khoảng 440.000 thùng/ngày, cũng bị nhắm mục tiêu, cùng các cơ sở tại Yaroslavl và Ust-Luga.
Khi các nhà máy lọc dầu bị hư hại hoặc phải giảm công suất, lượng dầu thô không thể chế biến trong nước buộc phải được đẩy ra thị trường quốc tế. Điều này giúp lý giải vì sao xuất khẩu dầu thô của Nga vẫn tăng, ngay cả khi sản lượng khai thác đang giảm.
Theo số liệu của OPEC, Nga bơm khoảng 9 triệu thùng/ngày trong tháng 5, thấp hơn gần 700.000 thùng/ngày so với mục tiêu của Moscow trong thỏa thuận với OPEC+.
Nhưng xuất khẩu tăng không đồng nghĩa với doanh thu tăng. Trong tuần tính đến ngày 5/7, 39 tàu chở dầu đã bốc khoảng 28,54 triệu thùng dầu thô Nga, giảm so với 32,01 triệu thùng trên 43 tàu của tuần trước đó.
Tính theo bình quân ngày, lượng xuất khẩu trong tuần giảm từ 4,57 triệu thùng/ngày xuống 4,08 triệu thùng/ngày. Dù vậy, xét từ đầu năm, dòng chảy dầu Nga vẫn đạt trung bình 3,59 triệu thùng/ngày, cao hơn 250.000 thùng/ngày so với mức trung bình cả năm ngoái.
Vấn đề lớn hơn nằm ở giá. Thỏa thuận hòa bình tạm thời giữa Mỹ và Iran đã làm kỳ vọng nguồn cung từ vùng Vịnh phục hồi, khiến giá dầu toàn cầu giảm mạnh.
Trước đó, việc Iran gần như đóng cửa eo biển Hormuz sau các cuộc tấn công của Mỹ và Israel đã làm gián đoạn dòng dầu từ Vịnh Ba Tư, giúp dầu Nga trở thành nguồn thay thế quan trọng cho nhiều nhà máy lọc dầu. Hiện tại, khi giao thông qua Hormuz dần nối lại, lợi thế bất thường của Moscow bắt đầu suy yếu.
Giá các loại dầu xuất khẩu chủ lực của Nga đã giảm theo thị trường quốc tế. Theo Argus Media, giá dầu Urals bốc tại Baltic giảm khoảng 8,6 USD, còn 59,83 USD/thùng trong bình quân 4 tuần. Urals từ Biển Đen giảm 8,5 USD, xuống 59,35 USD/thùng.
Dầu ESPO bốc tại Thái Bình Dương giảm 6,2 USD, còn 72,82 USD/thùng. Giá dầu Nga giao tới Ấn Độ cũng giảm tuần thứ 10 liên tiếp, xuống 79,12 USD/thùng, mức thấp nhất từ giữa tháng 3.
Hệ quả là giá trị xuất khẩu dầu thô của Nga giảm mạnh dù khối lượng vẫn cao. Tính theo bình quân 4 tuần, tổng giá trị xuất khẩu của Moscow giảm còn 1,88 tỷ USD/tuần trong giai đoạn đến ngày 5/7, lần đầu xuống dưới mốc 2 tỷ USD kể từ tháng 4.
Riêng tuần cuối cùng, doanh thu xuất khẩu giảm khoảng 350 triệu USD, còn 1,4 tỷ USD. Đây là tín hiệu đáng lo với ngân sách Nga, vốn phụ thuộc lớn vào dầu khí trong lúc chi phí chiến sự vẫn ở mức cao.
Một vấn đề khác là dầu xuất đi chưa chắc đã được giao ngay cho khách hàng cuối. Lượng dầu Nga trên biển tiếp tục tăng và đã quay lại gần mức đầu năm. Nguyên nhân là xuất khẩu trong tháng 6 cao hơn lượng giao hàng thực tế khoảng 500.000 thùng/ngày, khiến dầu bắt đầu tích tụ tại một số điểm như Mersa El-Hamra ở Ai Cập và quần đảo Riau, phía đông Singapore.
Trung Quốc, 1 trong 2 khách hàng lớn nhất của dầu Nga, cũng đang mua ít hơn so với trước khi chiến sự Iran nổ ra. Theo dữ liệu theo dõi, lượng giao tới các nhà máy lọc dầu Trung Quốc trong tháng trước thấp hơn khoảng 825.000 thùng/ngày so với tháng 2.
Trong 4 tuần tính đến ngày 5/7, lượng dầu trên tàu báo điểm đến là cảng Trung Quốc đạt 1,18 triệu thùng/ngày, không đổi so với kỳ trước. Dòng dầu báo đích đến Ấn Độ giảm từ 1,01 triệu xuống còn khoảng 760.000 thùng/ngày.
Tuy nhiên, con số này chưa phản ánh toàn bộ bức tranh. Có tới khoảng 2,11 triệu thùng/ngày đang nằm trên các tàu chưa công bố điểm đến cuối cùng. Trong đó, khoảng 1,93 triệu thùng/ngày là dầu từ các cảng phía tây Nga chỉ báo điểm đến trung gian như Singapore, Port Said hoặc kênh đào Suez, hoặc dầu từ các cảng Thái Bình Dương chưa rõ nơi nhận. Thêm khoảng 180.000 thùng/ngày hoàn toàn chưa phát tín hiệu điểm đến.
Thực tế, nhiều tàu chở dầu Nga thường chỉ khai điểm trung chuyển cho đến khi đi sâu vào biển Arab, thậm chí có tàu không bao giờ hiển thị điểm đến cuối cùng trước khi cập bến.
Trong khi đó, dòng chảy sang Thổ Nhĩ Kỳ giữ ở mức khoảng 100.000 thùng/ngày, cao hơn gấp đôi so với cuối tháng 5. Dầu sang Syria bình quân khoảng 40.000 thùng/ngày, nhưng con số này có thể được điều chỉnh vì tàu chở dầu Nga tới Syria thường tắt tín hiệu tự động khi đi xuống phía nam đảo Crete, trước khi xuất hiện gần cảng Baniyas trên ảnh vệ tinh.
Tổng hợp

