VIFOREST: Ngành gỗ không thiếu nguyên liệu, chỉ thiếu gỗ lớn cho chế biến sâu

Nhật Đức | 21:15 23/07/2026

Ngành gỗ Việt Nam đang đối mặt nghịch lý khi không thiếu nguyên liệu sinh khối nhưng lại thiếu gỗ lớn chất lượng cao cho chế biến sâu. Theo VIFOREST, để nâng sức cạnh tranh và giảm phụ thuộc vào gỗ nhập khẩu, ngành lâm nghiệp cần chuyển từ tư duy "canh tác rừng" sang "quản lý rừng", đồng thời xây dựng cơ chế tín dụng, bảo hiểm và liên kết chuỗi nhằm tạo động lực phát triển rừng gỗ lớn.

VIFOREST: Ngành gỗ không thiếu nguyên liệu, chỉ thiếu gỗ lớn cho chế biến sâu

Ngành gỗ đứng trước yêu cầu chuyển từ khai thác gỗ nhỏ sang phát triển rừng gỗ lớn

Phát biểu tại Diễn đàn "Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu" do VCCI chỉ đạo, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức chiều 23/7, ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), cho biết sau hơn ba thập kỷ, Việt Nam đã nâng độ che phủ rừng lên trên 42% và xây dựng được ngành công nghiệp gỗ có vị thế đáng kể trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa vào rừng trồng chu kỳ ngắn, gỗ nhỏ và xuất khẩu khối lượng lớn đang bộc lộ những giới hạn.

Theo ông Hoài, phần lớn diện tích rừng của các hộ gia đình vẫn được khai thác sau 3-5 năm, chủ yếu cung cấp nguyên liệu cho dăm gỗ, bột giấy, viên nén và một số loại ván công nghiệp, trong khi chưa đáp ứng được nhu cầu của ngành chế biến đồ gỗ giá trị cao.

Ngành lâm nghiệp không thiếu sinh khối mà đang thiếu nguồn gỗ lớn, chất lượng cao phục vụ chế biến sâu.

Theo ước tính của VIFOREST, tổng nhu cầu nguyên liệu quy đổi cho bốn nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực năm 2025 vào khoảng 59,5 triệu m³. Trong đó, dăm gỗ và viên nén chiếm tới 46,5 triệu m³, tương đương 78,1%; còn ván công nghiệp và đồ gỗ xuất khẩu chỉ chiếm 13 triệu m³, tương đương 21,9%. Điều này phản ánh ngành lâm nghiệp không thiếu sinh khối mà đang thiếu nguồn gỗ lớn, chất lượng cao phục vụ chế biến sâu.

Hệ quả là nhiều doanh nghiệp xuất khẩu vẫn thiếu nguyên liệu chất lượng tốt và tiếp tục phụ thuộc đáng kể vào gỗ nhập khẩu. Trong khi đó, hiệu quả kinh tế của hoạt động trồng rừng nguyên liệu nhìn chung chưa cao nếu tính trên mỗi hecta đất lâm nghiệp cũng như xét đến thời gian đầu tư, chi phí vốn và rủi ro thiên tai, sâu bệnh.

Thực trạng trên khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu vẫn phải phụ thuộc vào gỗ nhập khẩu, trong khi hiệu quả kinh tế của trồng rừng nguyên liệu chưa tương xứng với thời gian đầu tư, chi phí vốn và các rủi ro thiên tai, dịch bệnh.

Theo ông Hoài, việc người dân khai thác rừng sớm không phải vì không muốn phát triển rừng gỗ lớn mà là lựa chọn phù hợp với tín hiệu thị trường. Với quy mô đất nhỏ lẻ, rừng là tài sản quan trọng để đáp ứng nhu cầu tài chính trước mắt.

Nếu kéo dài chu kỳ khai thác lên 7-15 năm, người trồng rừng phải đối mặt với nhiều rủi ro trong khi tín dụng dài hạn, bảo hiểm rừng chưa phát triển và chênh lệch lợi nhuận giữa gỗ lớn với gỗ nhỏ chưa đủ hấp dẫn. Bên cạnh đó, thị trường dăm gỗ vẫn duy trì sức hút nhờ đầu ra ổn định, tiêu thụ nhanh và yêu cầu kỹ thuật thấp.

Theo Tổng Thư ký VIFOREST, để giải quyết bài toán này cần xử lý đồng thời bốn nhóm nguyên nhân gốc rễ, gồm đất đai phân tán và quy mô sản xuất nhỏ; hiệu quả kinh tế của gỗ lớn chưa đủ hấp dẫn; giống và kỹ thuật lâm sinh chưa đáp ứng chu kỳ dài; liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với người trồng rừng và hợp tác xã còn lỏng lẻo.

Chuyển từ "trồng cây rồi khai thác" sang "quản lý rừng" để nâng giá trị ngành gỗ

Theo Tổng Thư ký VIFOREST, chuyển đổi quan trọng nhất của ngành lâm nghiệp là thay đổi tư duy từ "trồng cây rồi khai thác" sang "quản lý rừng". Thay vì coi rừng là cây trồng ngắn ngày nhằm thu hồi vốn nhanh, mô hình mới hướng đến quản lý rừng như một tài sản dài hạn, từ lựa chọn giống, tối ưu mật độ trồng, tỉa cành, tỉa thưa, quản lý sâu bệnh, bảo vệ đất, nước, quản lý carbon đến khai thác theo mục tiêu chất lượng. Khi đó, người trồng rừng không chỉ bán sinh khối mà có thể bán gỗ theo đường kính, chất lượng, chứng chỉ và khả năng chế biến.

Phát triển rừng gỗ lớn chỉ có thể thành công nếu người trồng rừng nhìn thấy lợi ích kinh tế rõ ràng và có khả năng quản trị rủi ro.

Ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST)

Vì vậy, cần xây dựng các gói tín dụng xanh phù hợp với chu kỳ rừng 7-15 năm, phát triển bảo hiểm rừng trước các rủi ro như bão, cháy, sâu bệnh, đồng thời hỗ trợ các mô hình "lấy ngắn nuôi dài" thông qua nông lâm kết hợp hoặc khai thác tỉa thưa. Cùng với đó, doanh nghiệp cần công khai tiêu chuẩn thu mua, xây dựng bảng giá theo chất lượng và ký hợp đồng bao tiêu dài hạn để tạo động lực cho người trồng rừng.

VIFOREST cũng cho rằng trong bối cảnh sản xuất nhỏ lẻ vẫn còn phổ biến, hợp tác xã lâm nghiệp cần đóng vai trò tập hợp các hộ dân, thống nhất quy trình kỹ thuật, thực hiện chứng chỉ rừng theo nhóm và kết nối với doanh nghiệp.

Về phía doanh nghiệp chế biến, cần tham gia ngay từ đầu chuỗi giá trị thông qua cung cấp giống, chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ chứng chỉ, đồng tài trợ bảo hiểm và cam kết thu mua nhằm chia sẻ lợi ích với người trồng rừng.

Đồng thời, cần đầu tư phát triển giống cho chu kỳ dài, mở rộng chứng chỉ rừng và truy xuất nguồn gốc, quy hoạch công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu, ưu tiên các nhà máy cưa xẻ, sấy, ghép thanh và sản xuất đồ gỗ tại miền Trung, miền núi phía Bắc.

Theo ông Hoài, mô hình tăng trưởng của ngành gỗ Việt Nam trong giai đoạn tới cần chuyển từ tăng trưởng theo sản lượng sang tăng trưởng theo giá trị, từ xuất khẩu nguyên liệu sang sản phẩm chế biến sâu, từ gia công sang thiết kế và xây dựng thương hiệu.

Thành công của ngành sẽ không chỉ được đo bằng sản lượng khai thác mà còn bằng giá trị tạo ra trên mỗi hecta rừng, mỗi mét khối gỗ, tỷ lệ chế biến sâu, mức độ tự chủ nguyên liệu, lượng carbon lưu giữ và thu nhập của người trồng rừng.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, VIFOREST đề xuất năm nhóm giải pháp ưu tiên gồm chuyển từ "forest cropping" sang "forest management"; tạo cơ chế thị trường để gỗ lớn có lợi nhuận vượt trội; phát triển liên kết giữa chủ rừng, hợp tác xã và doanh nghiệp; đầu tư vào giống, chứng chỉ rừng, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số; đồng thời tái định vị ngành lâm nghiệp theo hướng cung cấp vật liệu xanh, lưu trữ carbon và tạo giá trị gia tăng cao.

Theo ông Ngô Sỹ Hoài, Việt Nam đã thành công trong phục hồi diện tích rừng, nhưng giai đoạn tới cần thành công trong nâng cao chất lượng rừng, nâng giá trị xuất khẩu và chuyển từ cạnh tranh bằng chi phí sang cạnh tranh bằng chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

Bài liên quan

(0) Bình luận
VIFOREST: Ngành gỗ không thiếu nguyên liệu, chỉ thiếu gỗ lớn cho chế biến sâu
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO