Thời kỳ 'dân số vàng' của Việt Nam sắp kết thúc?

Hoàng Nguyễn | 12:45 05/01/2026

Theo nghiên cứu của Cục Thống kê chủ trì biên soạn với sự phối hợp của các chuyên gia biên soạn và sự hỗ trợ kỹ thuật của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng trong vòng 10 năm tới

Thời kỳ 'dân số vàng' của Việt Nam sắp kết thúc?

Báo cáo "Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024-2074" dựa trên bằng chứng về xu hướng sinh hiện tại của Việt Nam, kết hợp với quá trình biến đổi mức sinh trong quá khứ và tham khảo phương pháp dự báo dân số của UN được trình bày trong báo cáo Triển vọng dân số thế giới năm 2024 (World Population Prospect 2024), nghiên cứu xây dựng dự báo mức sinh (TFR) của Việt Nam giai đoạn 2024-2074 theo ba phương án: Thấp, trung bình và cao.

Theo các giả thiết này, đến năm 2074, Tổng tỷ suất sinh (TFR) đạt 1,45 con/phụ nữ theo phương án thấp, 1,85 con/phụ nữ theo phương án trung bình và 2,01 con/phụ nữ theo phương án cao.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, dân số Việt Nam trung bình năm 2024 là 101,3 triệu người, dự báo vào năm 2074 là 114,2 triệu người theo phương án trung bình, 103,9 triệu người theo phương án thấp và 118,5 triệu người theo phương án cao. Như vậy, trong vòng 50 năm, từ 2024 đến 2074, dân số nước ta theo phương án trung bình và cao sẽ tăng thêm tương ứng là 12,7% và 17,0%, tuy nhiên theo phương án thấp là 2,5%.

Theo phương án trung bình, trong 5 năm đầu của thời kỳ dự báo, 2024-2029, tỷ lệ tăng dân số bình quân hằng năm của cả nước là 0,66%. Những năm sau đó, tốc độ tăng dân số hằng năm giảm dần và sẽ đạt trạng thái "dừng" vào năm 2060 với tốc độ tăng bằng 0%, từ năm 2061 trở đi, tốc độ tăng dân số ghi nhận giá trị âm.

Trong trường hợp mức sinh giảm như phương án thấp thì năm 2051, dân số Việt Nam sẽ ghi nhận tình trạng tăng trưởng âm, sớm hơn 10 năm so với phương án trung bình. Điều đáng nói là mức giảm dân số diễn ra khá nhanh và ngày càng mạnh. Giai đoạn 2049-2054, bình quân mỗi năm dân số giảm 0,05%/năm, mức giảm này ở cuối thời kỳ dự báo (2069-2074) là 0,44%/năm, tương đương giảm bình quân 461 nghìn người mỗi năm.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đang nỗ lực xây dựng các chính sách, chiến lược nhằm nhằm duy trì mức sinh thay thế, Cục Thống kê xây dựng kịch bản mức sinh Việt Nam sẽ đạt 2,01 con/phụ nữ vào cuối thời kỳ dự báo cho phương án cao. Theo đó, dân số Việt Nam vẫn tăng nhẹ cho đến năm 2074. Bình quân mỗi năm giai đoạn 2069-2074, dân số tăng 0,05%, tương đương 58 nghìn người mỗi năm.

Việt Nam chỉ còn 10 năm 'vàng' cho phát triển kinh tế và nguồn nhân lực

Đáng chú ý, nghiên cứu cũng phân tích và dự báo về thời kỳ dân số vàng của Việt Nam. Theo định nghĩa của Quỹ Dân số Liên hợp quốc trong báo cáo về "Tận dụng cơ hội dân số vàng ở Việt Nam – Cơ hội, thách thức và các gợi ý chính sách": thời kỳ dân số "vàng" xảy ra khi tỷ lệ trẻ em (0-14) thấp hơn 30% và tỷ lệ người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) thấp hơn 15%.

Nghiên cứu chỉ ra rằng, Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng (từ năm 2007 khi tỷ trọng dân số trẻ em (từ 0-14 tuổi) nhỏ hơn 30%, tỷ trọng dân số người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) nhỏ hơn 15%10. 

Ở thời kỳ cơ cấu dân số vàng, tỷ số phụ thuộc chung (dân số từ 0-14 tuổi và dân số trên 65 tuổi tính so với dân số từ 15-64 tuổi) thường đạt dưới 50%, tức là cứ hai người trong độ tuổi lao động từ 15-64 tuổi gánh một người ở độ tuổi phụ thuộc (dưới 15 hoặc từ 65 trở lên).

Số liệu cho thấy Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng trong giai đoạn 2024-2035, khi tỷ trọng dân số trẻ em (0–14 tuổi) luôn dưới 30% và tỷ trọng người cao tuổi (65 tuổi trở lên) vẫn dưới 15%. Trong suốt giai đoạn này, dân số trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi) duy trì ở mức rất cao, từ 67,4% năm 2024 xuống 66,9% năm 2035, tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế và phát triển nguồn nhân lực.

Đến năm 2036, tỷ trọng người cao tuổi tăng lên 15,0%, lần đầu tiên vượt ngưỡng để xác định thời kỳ dân số vàng. Đây được xem là thời điểm Việt Nam chính thức bước ra khỏi giai đoạn dân số vàng. Sau mốc này, cơ cấu dân số của Việt Nam chuyển sang giai đoạn già hóa nhanh, thể hiện qua tỷ trọng người từ 65 tuổi trở lên tăng liên tục và tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động giảm dần theo thời gian.

Theo phương án trung bình, trong suốt thời kỳ dự báo, dân số già (dân số từ 65 tuổi trở lên) của Việt Nam tăng rất nhanh, từ 9,4 triệu người vào năm 2024 lên đến 20,5 triệu người vào năm 2044 và đạt 31,2 triệu người vào năm 2074. Trong thời kỳ này, chỉ số già hóa của Việt Nam (tính bằng tỷ số phần trăm giữa số người từ 60 tuổi trở lên so với số trẻ dưới 15 tuổi) tăng liên tục và với tốc độ rất nhanh. 

Năm 2024, chỉ số già hóa đạt 60,2%, tức cứ 100 trẻ em thì có khoảng 60 người cao tuổi. Đến cuối thời kỳ dự báo, chỉ số này tăng lên 224,9%, nghĩa là cứ 100 trẻ em thì có gần 225 người cao tuổi. 

Sau nửa thế kỷ, chỉ số già hóa tăng khoảng 3,7 lần. Điều này có nghĩa rằng nếu năm 2024, cứ 2 trẻ em có khoảng 1 người cao tuổi, thì đến năm 2074, cứ 2 trẻ em có khoảng 4 người cao tuổi, thể hiện áp lực già hóa ngày càng lớn đối với lực lượng trong độ tuổi lao động và hệ thống an sinh xã hội. 

Đến năm 2034, Việt Nam sẽ bước qua một ngưỡng dân số quan trọng khi số người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) sẽ vượt số trẻ em (từ 0-14 tuổi).

Như vậy, theo phương án trung bình, Việt Nam bắt đầu thời kỳ dân số già từ năm 2034, khi tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên đạt 14%. Giai đoạn từ năm 2034 đến năm 2036, Việt Nam có cơ cấu dân số vàng cũng đồng thời bước vào thời kỳ dân số già.

Thời kỳ dân số già của Việt Nam sẽ kéo dài 15 năm, từ năm 2034 đến năm 2049. Sau giai đoạn này, từ năm 2050 đến 2074, Việt Nam sẽ có cơ cấu dân số rất già tương ứng với tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm trên 21%. Tỷ trọng dân số già (từ 65 tuổi trở lên) năm 2050 và năm 2074 lần lượt chiếm 21,1% và 27,3% tổng dân số.


(0) Bình luận
Thời kỳ 'dân số vàng' của Việt Nam sắp kết thúc?
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO