Đây là một trong những nội dung được các nhà quản lý, doanh nghiệp và chuyên gia bàn luận tại Hội thảo “Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước: Từ sắp xếp nguồn lực đến dẫn dắt tăng trưởng” do Báo Tiền Phong tổ chức.
Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng hai con số, việc tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp Nhà nước không chỉ là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn là điều kiện quan trọng để khơi thông nguồn lực, tạo động lực cho tăng trưởng.
Đặc biệt, Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu tiếp tục cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả, nâng cao năng lực quản trị, sử dụng hiệu quả nguồn lực và phát huy vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực chiến lược.
Tuy nhiên, kết quả triển khai trong thời gian qua vẫn còn khoảng cách khá lớn so với mục tiêu đề ra. Theo Bộ Tài chính, trong giai đoạn 2021-2025, cả nước mới cổ phần hóa được 5 doanh nghiệp với tổng giá trị khoảng 643 tỷ đồng.
Trong 8 doanh nghiệp được phê duyệt phương án giai đoạn 2021-2025, có 6 doanh nghiệp đã hoàn thành sáp nhập, 2 doanh nghiệp đang thực hiện giải thể.
Về thoái vốn nhà nước, trong tổng số 146 doanh nghiệp thuộc diện phải thoái vốn, mới chỉ có 19 doanh nghiệp hoàn thành, đạt khoảng 13% kế hoạch giai đoạn 2022-2025.
Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Tuấn Linh - đại diện Cục Phát triển Doanh nghiệp Nhà nước, Bộ Tài chính cho rằng, DNNN tiếp tục giữ vai trò nòng cốt của kinh tế nhà nước, là lực lượng dẫn dắt ở nhiều lĩnh vực then chốt và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Sau hơn ba thập kỷ sắp xếp, đổi mới, số lượng DNNN đã giảm từ hơn 12.000 doanh nghiệp đầu những năm 1990 xuống còn 695 doanh nghiệp vào cuối năm 2025, trong đó 497 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn và 198 doanh nghiệp do Nhà nước nắm cổ phần chi phối.
Quy mô tài sản của khối DNNN đạt khoảng 4,5 triệu tỷ đồng, doanh thu gần 2,9 triệu tỷ đồng, đóng góp ngân sách khoảng 390.000 tỷ đồng, tăng đáng kể so với năm 2021.
Tuy nhiên, quá trình cơ cấu lại DNNN vẫn còn nhiều hạn chế. Hiệu quả hoạt động của nhiều doanh nghiệp chưa tương xứng với nguồn lực, mô hình quản trị chậm đổi mới, năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn yếu. Đặc biệt, tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn giai đoạn 2021-2025 không đạt mục tiêu đề ra.
Đến hết năm 2025, mới có 180/616 doanh nghiệp hoàn thành xây dựng đề án cơ cấu lại; chưa có doanh nghiệp nào hoàn tất cổ phần hóa, chỉ 17/146 doanh nghiệp thực hiện thoái vốn, trong khi số thu từ cổ phần hóa và thoái vốn chỉ đạt khoảng 3.720 tỷ đồng.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ cơ chế phân cấp chưa đủ mạnh, thủ tục đầu tư còn phức tạp, công tác chuẩn bị cổ phần hóa thiếu hiệu quả, cùng tâm lý né tránh trách nhiệm của một bộ phận người đứng đầu doanh nghiệp và cơ quan đại diện chủ sở hữu.
Bước sang giai đoạn 2026-2030, việc tái cơ cấu DNNN sẽ được triển khai theo các định hướng mới từ Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị, Kết luận 18 của Ban Chấp hành Trung ương và Luật Quản lý và Đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15.
Trọng tâm là tăng cường phân cấp, trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng chủ sở hữu, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phát huy nguồn lực của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vào các dự án trọng điểm, đồng thời đổi mới cơ chế cổ phần hóa, thoái vốn theo hướng linh hoạt, gắn với nâng cao hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo bà Đoàn Thị Kim Dung - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước không chỉ là giảm số lượng hay cổ phần hóa một cách cơ học, mà là quá trình xác định đúng vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong tổng thể nền kinh tế nhà nước.
Mục tiêu cốt lõi là tập trung nguồn lực vào các ngành, lĩnh vực then chốt, đồng thời xử lý dứt điểm những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả. Theo đó, cần tránh tình trạng sở hữu dàn trải vì dễ làm lẫn lộn giữa mục tiêu kinh doanh với nhiệm vụ công ích, làm giảm kỷ luật tài chính và gia tăng rủi ro cho ngân sách.
Nhà nước chỉ nên trực tiếp sở hữu doanh nghiệp ở những lĩnh vực thực sự cần thiết, còn với các lĩnh vực thị trường có thể đảm nhận thì nên sử dụng các công cụ điều tiết như đặt hàng, đấu thầu hoặc hợp tác công - tư.
Nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế - Tài chính tổng hợp kinh nghiệm từ bốn nhóm quốc gia cho thấy:
Thứ nhất, Trung Quốc tập trung củng cố các doanh nghiệp nhà nước chiến lược, phân loại rõ chức năng, tập trung quyền chủ sở hữu, phát triển các tập đoàn lớn và xử lý các doanh nghiệp nhỏ, yếu kém. Bài học là xác định rõ phạm vi chiến lược và kiểm soát hoạt động ngoài ngành.
Thứ hai, Singapore và Malaysia xây dựng mô hình tổ chức đầu tư chuyên nghiệp. Việc quản lý dựa trên hiệu quả của toàn bộ danh mục đầu tư thay vì từng doanh nghiệp riêng lẻ. Cơ quan đại diện chủ sở hữu được chuyên nghiệp hóa, đồng thời giảm kỳ vọng hỗ trợ từ Nhà nước trước khi bán vốn.
Thứ ba, New Zealand, Australia, Thụy Điển và Na Uy tách bạch rõ nhiệm vụ công với mục tiêu kinh doanh. Hội đồng quản trị được trao quyền rõ ràng, doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng với khu vực tư nhân và được đánh giá theo từng mục tiêu cụ thể.
Thứ tư, các nước Đông Âu thực hiện tư nhân hóa trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế. Điểm đáng chú ý là trước khi bán vốn đều thực hiện kiểm toán, định giá tài sản và hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ tài sản nhà nước.
“Chúng tôi đề xuất chính sách cho Việt Nam, gồm xác định rõ mục tiêu sở hữu trước khi quyết định tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ; tiếp tục tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu; thực hiện kiểm toán, định giá tài sản đầy đủ trước khi thay đổi chủ sở hữu; duy trì kỷ luật tài chính nghiêm ngặt đối với doanh nghiệp nhà nước; không sáp nhập các doanh nghiệp yếu kém chỉ để che giấu thua lỗ; đồng thời xây dựng chính sách hỗ trợ người lao động và bảo đảm dịch vụ công một cách độc lập, không phụ thuộc vào việc duy trì những doanh nghiệp không còn khả năng phục hồi”, bà Đoàn Thị Kim. Dung cho biết.
