Series phóng sự điều tra "Bẫy 2 - Cạm bẫy từ các hợp đồng kỳ nghỉ" phát sóng trên VTV đã gây xôn xao dư luận khi phơi bày những cạm bẫy phía sau mô hình "sở hữu kỳ nghỉ", với hàng loạt nạn nhân, mà đa phần là người cao tuổi, từ 70 - 90 tuổi. Mỗi người đã bỏ ra từ hàng trăm triệu đến hàng chục tỷ đồng cho các hợp đồng "sở hữu kỳ nghỉ", nhưng sau đó không thể sử dụng như kỳ vọng, không chuyển nhượng được và cũng không lấy lại được tiền.
Dưới đây, xin giới thiệu tới quý độc giả góc nhìn của luật sư Hoàng Hà - Đoàn Luật sư TP HCM về khía cạnh pháp lý liên quan đến mô hình này.
---
Theo tôi bất cập lớn nhất của mô hình sở hữu kỳ nghỉ hiện nay là pháp luật Việt Nam chưa có một khung điều chỉnh riêng, rõ và trực diện.
Sản phẩm này không hoàn toàn là bất động sản, vì người mua không nhận nhà, không nhận đất, không được cấp giấy chứng nhận. Nó cũng không đơn thuần là dịch vụ du lịch, vì hợp đồng thường kéo dài nhiều năm, giá trị lớn, có phí duy trì, có cam kết chuyển nhượng, mua lại, cho thuê lại hoặc những lời tư vấn gần với một khoản đầu tư.
Chính vì nằm giữa nhiều lĩnh vực như vậy, nên khi tranh chấp phát sinh, người tiêu dùng phải đi vòng qua các quy định chung của Bộ luật Dân sự, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, pháp luật quảng cáo và trong một số trường hợp là pháp luật hình sự.
Vấn đề nằm ở chỗ khoảng trống này tạo bất lợi rất lớn cho người mua. Họ có thể khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng, chấm dứt hợp đồng, hoàn trả tiền hoặc bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được mình bị cung cấp thông tin sai lệch, bị lừa dối hoặc bị làm cho hiểu sai bản chất giao dịch. Nhưng dù thắng kiện ở tòa thì chưa chắc đã đồng nghĩa lấy lại được tiền.
.jpg)
Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp bán các gói dịch vụ kiểu này không có tài sản đáng kể, không sở hữu khu nghỉ dưỡng, không còn dòng tiền hoặc đã chuyển dịch tài sản sang pháp nhân khác. Khi đó bản án có hiệu lực chỉ mang ý nghĩa pháp lý và tinh thần, còn việc thi hành án lại rất khó. Người tiêu dùng có thể cầm một bản án thắng kiện nhưng không thu hồi được tiền. Đây là điểm đau nhất của tranh chấp dân sự trong nhóm giao dịch này.
Vì vậy, không thể chỉ trông chờ người dân tự kiện từng vụ. Thay vào đó, cần kiểm soát ngay từ khâu bán hàng, từ hợp đồng mẫu, tài liệu quảng cáo, hội thảo, chính sách chuyển nhượng, lời hứa mua lại và việc thu tiền tại chỗ. Nếu để người dân mất tiền rồi mới bảo “ra tòa kiện” thì biện pháp bảo vệ đã đến quá muộn.
Về trách nhiệm của nhân viên tư vấn, không thể mặc nhiên coi họ là người ngoài cuộc. Nếu nhân viên chỉ truyền đạt đúng nội dung hợp đồng, đúng chính sách doanh nghiệp, không tự ý hứa hẹn sai sự thật, trách nhiệm chính vẫn thuộc về doanh nghiệp.
Nhưng nếu nhân viên biết rõ không có khách mua, không có cơ chế mua lại, không bảo đảm sinh lời mà vẫn tư vấn chắc chắn chuyển nhượng được, chắc chắn thu hồi vốn, hoặc yêu cầu khách đóng thêm tiền để được giải ngân, nộp thuế, nâng hạng, bán lại hợp đồng cũ thì cá nhân đó có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý độc lập.
Trách nhiệm này có thể là dân sự nếu hành vi tư vấn sai gây thiệt hại, có thể là hành chính nếu có hành vi cung cấp thông tin gian dối, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Thậm chí có thể xem xét trách nhiệm hình sự nếu có đủ căn cứ cho thấy nhân viên cùng doanh nghiệp hoặc cùng nhóm người khác dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền.
Trong trường hợp đó, không thể núp sau câu nói “tôi chỉ là nhân viên sales”. Người trực tiếp đưa ra lời hứa sai, trực tiếp thúc ép khách chuyển tiền, trực tiếp tạo niềm tin giả để khách giao tài sản phải chịu trách nhiệm tương xứng với vai trò của mình.
Mô hình Sở hữu kỳ nghỉ là gì?
"Sở hữu kỳ nghỉ" (hay Timeshare) là mô hình mà khách hàng chỉ cần bỏ tiền một lần là sẽ có nhiều năm nghỉ dưỡng tại các khu resort cao cấp. Thậm chí, khách hàng còn được hứa hẹn có thể cho thuê, sang nhượng và sinh lời theo thời gian.
Timeshare bắt đầu ra đời tại châu Âu từ thập niên 1960, được coi như một giải pháp chia sẻ chi phí tối ưu. Cụ thể, thay vì trả 100% tiền mua bất động sản mà chỉ ở vài tuần một năm, người tiêu dùng chỉ trả đúng phần trong thời gian họ sử dụng. Sau đó, mô hình Timeshare càng phát triển trở thành ngành công nghiệp tỷ USD khi có sự ra đời của các bên thứ ba giúp kết nối các resort toàn cầu, qua đó cho phép người mua đổi tuần nghỉ từ quốc gia này sang quốc gia khác.
Tuy nhiên, mô hình Timeshare trên thế giới cũng là tâm điểm của rất nhiều tranh cãi, khiếu nại và các vụ kiện tụng pháp lý kéo dài nhiều thập kỷ, khi xuất phát từ chiến thuật bán hàng áp lực cao để thao túng tâm lý, bẫy phí tăng, không thể thoát hợp đồng…
Tại Việt Nam, Timeshare bùng nổ trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, nhất là sau Covid-19.

