Doanh nghiệp Việt vẫn xem nội địa là “vùng an toàn”
Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, 8 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước. Con số này bước đầu tiệm cận mục tiêu tăng 13-15% mà Chính phủ đặt ra cho cả năm.
Tuy nhiên, câu hỏi không chỉ nằm ở sức mua tăng bao nhiêu, mà là dòng tiền tiêu dùng sẽ tạo ra giá trị cho ai và doanh nghiệp Việt có tận dụng được dư địa này hay không.
Chia sẻ chương trình Chính sách và Đối thoại với chủ đề "Phát huy sức mạnh thị trường nội địa cho mục tiêu tăng trưởng hai con số" do báo Công thương tổ chức, bà Lê Thị Hồng, chuyên viên cao cấp Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương, nhiều ngành hàng như thủy sản, dệt may, da giày có tiềm năng lớn và cũng là những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực. Dù vậy, dư địa tại thị trường nội địa vẫn còn bỏ ngỏ.
“Phần lớn vẫn coi thị trường nội địa như một ‘vùng an toàn’ khi thị trường xuất khẩu gặp khó khăn. Một số sản phẩm không còn phù hợp hoặc chưa được nhà phân phối ở thị trường xuất khẩu tiêu thụ thì mới được đưa trở lại thị trường trong nước”, bà Hồng nói.
Theo bà, cách nhìn này cần thay đổi. Thị trường hơn 100 triệu dân, với thu nhập bình quân đầu người đến năm 2025 đạt hơn 5.000 USD/năm, là một thị trường có tiềm năng lớn và cần được coi là thị trường mục tiêu, thay vì phương án dự phòng cho hàng xuất khẩu.
Dẫn ví dụ từ Nhật Bản, Tiến sĩ Trịnh Thị Thanh Thủy, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, cho rằng đây là một ví dụ đáng tham khảo về cách doanh nghiệp có thể phát triển đồng thời thị trường nội địa và xuất khẩu.
“Trên hệ thống phân phối của Nhật Bản có hàng dành cho xuất khẩu và hàng tiêu thụ nội địa. Hàng nội địa của Nhật có giá cao hơn hàng xuất khẩu nhưng chất lượng không thấp hơn. Ngược lại, họ sản xuất hàng nội địa phù hợp với điều kiện địa lý, văn hóa và tâm lý tiêu dùng của người Nhật”, bà phân tích.
Điều đáng chú ý là những sản phẩm được thiết kế cho thị trường Nhật lại không chỉ được người Nhật ưa chuộng. Trong thực tế, nhiều người tiêu dùng nước ngoài, trong đó có người Việt Nam, cũng rất thích hàng tiêu dùng nội địa của Nhật.
Theo chuyên gia, hàng xuất khẩu của Nhật được điều chỉnh về mẫu mã, giá cả để phù hợp với từng thị trường. Trong khi đó, hàng nội địa được sản xuất với yêu cầu phù hợp với điều kiện, văn hóa và tâm lý tiêu dùng trong nước.
“Một chiếc nồi cơm điện dành cho thị trường nội địa có thể có giá 500-600 USD nhưng người Việt Nam vẫn thích mua hơn một sản phẩm 200 USD dành cho xuất khẩu, dù đều được sản xuất tại cùng một quốc gia và theo các tiêu chuẩn kỹ thuật”, bà Thủy nói và nhấn mạnh cách làm này cho thấy thị trường nội địa không được nhìn như nơi tiêu thụ phần hàng xuất khẩu còn dư, mà là một thị trường có yêu cầu riêng và được doanh nghiệp chủ động nghiên cứu để phát triển sản phẩm.
Không chỉ chất lượng, hàng Việt còn thiếu “4T”

Theo Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam Trần Thị Phương Lan, quyết định mua hàng của người tiêu dùng hiện nay có thể khái quát bằng “4T”: Tiền - Tin - Tiện - Thích.
Trong đó, “Tiền” là mức giá và khả năng chi trả; “Tin” là niềm tin vào chất lượng, nguồn gốc và đơn vị phân phối; “Tiện” là sự dễ dàng trong mua sắm, thanh toán; còn “Thích” liên quan đến trải nghiệm.
Từ góc nhìn của bà Thủy, đây cũng chính là một điểm nghẽn của hàng Việt. Doanh nghiệp xuất khẩu buộc phải đáp ứng yêu cầu của thị trường nước ngoài, nhưng không phải tất cả doanh nghiệp trong nước đều đáp ứng được kỳ vọng của người tiêu dùng nội địa. Không chỉ vậy, cách tổ chức sản xuất cũng là vấn đề.
“Doanh nghiệp Việt Nam vẫn có tình trạng sản xuất theo tập quán trước đây: sản xuất xong mới tính đến thị trường, thay vì lấy tín hiệu từ thị trường và nhu cầu của người mua trong nước làm cơ sở để tổ chức sản xuất”, bà Thủy nói.
Theo bà, đây là lý do khả năng dự báo cung - cầu trở nên đặc biệt quan trọng. Nhà sản xuất phải biết thị trường cần gì trước khi tổ chức sản xuất, thay vì làm ra sản phẩm rồi mới tìm đầu ra.
Chưa kể, theo chuyên gia, hiện có nhiều chính sách, chương trình kích thích nhu cầu tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên, nhu cầu của thị trường trong nước không chỉ là nhu cầu tiêu dùng mà còn bao gồm nhu cầu phục vụ sản xuất. Vấn đề là các nhu cầu đó đã được đáp ứng hay chưa, từ chi phí, giá cả, mặt bằng, logistics đến các dịch vụ liên quan.
Khi các chi phí này còn cao, giá hàng hóa sản xuất trong nước sẽ bị đẩy lên và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu. Nếu không thận trọng, việc kích cầu có thể vô tình kích cầu đối với hàng hóa nhập khẩu. Khi người tiêu dùng tăng mua hàng nhập khẩu, tác động ngược trở lại đối với tăng trưởng GDP có thể xảy ra.
“Cốt lõi nhất là làm sao tăng sức mua thực tế, tức nhu cầu và sức mua thực tế đối với hàng hóa Việt Nam.Khi sức mua tăng, điều quan trọng hơn là làm sao để đồng tiền chi tiêu trên thị trường trong nước quay trở về với doanh nghiệp Việt, thay vì để hệ thống phân phối nước ngoài hoặc doanh nghiệp FDI chia sẻ phần lớn giá trị. Đây mới là vấn đề cốt lõi để thị trường trong nước phát triển bền vững”, bà nhấn mạnh.
