Ngành du lịch Việt Nam và Australia cùng thiếu một thứ
Năm 2025, tổng thu từ khách du lịch Việt Nam lần đầu vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, với gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế và 137 triệu lượt khách nội địa.
Phía sau kỷ lục ấy là khoảng trống nhân lực ngày càng lớn. Trong khoảng 2,5 triệu lao động du lịch, chỉ 45% được đào tạo đúng chuyên ngành. Theo ông Jimmy Phạm, nhà sáng lập KOTO, ngành cần bổ sung khoảng 20.000 lao động mỗi năm, trong khi mức thiếu hụt hiện lên tới 40.000 người.
Đây không phải bài toán riêng của Việt Nam.
Trong năm tài chính 2024–2025, du lịch trực tiếp đóng góp 81,1 tỷ AUD, tương đương 2,9% GDP Australia và tạo ra 696.000 việc làm. Tuy nhiên, ngành này vẫn thiếu lao động lành nghề, đặc biệt ở các vị trí đầu bếp, giám sát và quản lý nhà hàng – khách sạn.
Theo Đại sứ Australia tại Việt Nam - bà Gillian Bird, dù khác nhau về quy mô và mức độ phát triển, du lịch đều giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế hai nước. Điểm chung là Việt Nam và Australia đều thiếu nhân lực có kỹ năng cao trong lĩnh vực này.
Nghịch lý ở chỗ, “cơn khát” nhân lực diễn ra trong khi nhiều thanh niên có hoàn cảnh khó khăn, phụ nữ dân tộc thiểu số, người khuyết tật và các nhóm yếu thế vẫn đứng ngoài thị trường lao động chính thức.

“Phòng thí nghiệm” tìm nhân lực ở nơi thị trường bỏ quên
“KOTO giống như một phòng thí nghiệm thực tế, chứng minh rằng mô hình này có thể hoạt động tốt”, Đại sứ Gillian Bird nhận định.
“Mô hình” mà bà Gillian nhắc tới là một cách tiếp cận khác trong việc phát triển nguồn nhân lực: những người lâu nay được coi là đối tượng cần hỗ trợ hoàn toàn có thể trở thành lực lượng lao động có kỹ năng mà doanh nghiệp đang thiếu.
KOTO tuyển chọn thanh niên có hoàn cảnh khó khăn, phụ nữ dân tộc thiểu số, người khuyết tật, thành viên cộng đồng LGBT và các nhóm chưa được đại diện đầy đủ, thông qua tuyển sinh trực tiếp hoặc mạng lưới các tổ chức xã hội như Quỹ Thiện Tâm; Blue Dragon; Ngôi nhà Bình yên…

Học viên tham gia chương trình nội trú miễn phí kéo dài 24 tháng, được đào tạo nghiệp vụ nhà hàng – khách sạn, tiếng Anh, kỹ năng sống và hỗ trợ tâm lý. KOTO chăm lo nơi ăn ở nhưng không bao bọc học viên khỏi kỷ luật lao động: các em phải tự lo phần lớn sinh hoạt, thực tập sớm, không dùng điện thoại và trải qua 1–2 tháng thử thách trước khi quyết định tiếp tục.
Sau 25 năm, KOTO đã hỗ trợ hơn 2.000 thanh niên có hoàn cảnh khó khăn. Theo ông Jimmy Phạm, 100% học viên tốt nghiệp có việc làm và 92% duy trì công việc ổn định sau 1–2 năm. Nhiều khách sạn, tập đoàn lớn sẵn sàng tiếp nhận học viên trước khi các em hoàn thành chương trình.
“Nhu cầu từ các doanh nghiệp đã phủ hết số lượng học viên đầu ra của KOTO đến khoảng năm 2028–2030”, ông Jimmy Phạm cho biết.
Những con số này là phép kiểm chứng quan trọng. Nếu học viên chỉ được tuyển dụng vì sự cảm thông hoặc một cam kết trách nhiệm xã hội, họ khó có thể bám trụ lâu dài. Tỷ lệ duy trì việc làm 92% cho thấy khi được đào tạo và hỗ trợ đúng cách, lực lượng này có thể đáp ứng nhu cầu thật của doanh nghiệp.
Hòa nhập không chỉ là “việc nên làm”
Nhưng một “phòng thí nghiệm” mới hỗ trợ vài nghìn người liệu có thể tạo ra thay đổi ở quy mô toàn ngành? Và doanh nghiệp có tiếp nhận mô hình ấy nếu không coi đây là trách nhiệm xã hội?
Theo Đại sứ Gillian Bird, không nên đánh giá thấp tác động của những chương trình như KOTO. Giá trị lớn nhất không chỉ nằm ở số người được hỗ trợ, mà ở việc chứng minh hòa nhập có thể tạo ra hiệu quả kinh doanh thực tế.
“Hòa nhập không chỉ là việc đúng đắn nên làm, mà còn là việc thông minh nên làm.”

Trong bối cảnh thiếu nhân lực, tuyển dụng hòa nhập giúp doanh nghiệp mở rộng nguồn tuyển và tiếp cận lực lượng lao động còn bỏ ngỏ. Khoảng cách giữa các nhóm yếu thế và doanh nghiệp không hẳn nằm ở khả năng làm việc, mà chủ yếu ở cơ hội tiếp cận đào tạo nghề, ngoại ngữ, kỹ năng mềm và mạng lưới tuyển dụng.
Dự án Our Turn của KOTO, được Chính phủ Australia hỗ trợ trong 5 năm, sẽ mở rộng phép thử này. Kế thừa Her Turn – chương trình tập trung vào phụ nữ dân tộc thiểu số đã thành công trước đó – dự án mới mở rộng cơ hội học nghề và việc làm tới người khuyết tật cùng các nhóm chưa được đại diện đầy đủ.
Our Turn cũng không dừng ở đào tạo học viên. KOTO sẽ phối hợp với doanh nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các nhà hoạch định chính sách nhằm thúc đẩy môi trường làm việc hòa nhập, xây dựng lộ trình thăng tiến và mở rộng cơ hội lãnh đạo cho người lao động thuộc nhóm yếu thế.
Tuy nhiên, theo ông Jimmy Phạm, thách thức lớn nhất không phải đào tạo được bao nhiêu người mà là nhân rộng mô hình nhưng không đánh mất chất lượng.
“Phải làm tốt chất lượng trước rồi mới nhân rộng. Nếu chạy theo số lượng mà mất chất lượng thì không bền vững”, ông Jimmy Phạm nói.
Đại sứ Gillian Bird cho rằng một mô hình đào tạo nghề muốn tạo ra việc làm thực sự phải đáp ứng ba điều kiện: liên kết trực tiếp với doanh nghiệp, tập trung vào kỹ năng thực hành và bảo đảm mọi nhóm lao động tiềm năng đều có thể tiếp cận.

Theo ông Jimmy Phạm, Việt Nam hiện có khoảng 1,6 triệu thanh niên không có bằng cấp hoặc nghề nghiệp, tương đương khoảng 29% nhóm tuổi 15–24. Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới tăng trưởng GDP hai chữ số, việc khai mở nguồn nhân lực này trở thành một yêu cầu cấp thiết cả về kinh tế lẫn xã hội. Đây cũng là khoảng trống mà Our Turn muốn góp phần thu hẹp.
Nếu mô hình được nhân rộng, Việt Nam có thể đồng thời giải hai bài toán: bổ sung nhân lực có kỹ năng cho ngành kinh tế quy mô hơn 1 triệu tỷ đồng và đưa nhiều người yếu thế vào một lộ trình nghề nghiệp bền vững.
Khi đó, hòa nhập không chỉ là câu chuyện “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Nó trở thành một động lực tăng trưởng.
