Theo đó, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) mới có văn bản góp ý Dự thảo Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản (Dự thảo).
Theo VCCI, Điều 1 Dự thảo xác định phạm vi điều chỉnh của Luật là quy định về việc trưng mua, trưng dụng tài sản, trong đó loại trừ việc trưng dụng đất, khu vực biển đã giao để thực hiện hoạt động lấn biển theo pháp luật về đất đai.
Quy định này có thể được hiểu rằng các vấn đề liên quan đến trưng mua, trưng dụng tài sản sẽ được tập trung quy định tại Luật này, ngoại trừ trường hợp được loại trừ nêu trên. Tuy nhiên, một số quy định trong Dự thảo vẫn cho phép pháp luật chuyên ngành tiếp tục quy định về các trường hợp, đối tượng và thẩm quyền trưng mua, trưng dụng.
Cụ thể, điểm e khoản 2 Điều 6 quy định trường hợp trưng mua, trưng dụng tài sản bao gồm “trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai theo quy định của Luật khác”.
Tương tự, khoản 6 Điều 22 quy định tài sản thuộc đối tượng trưng dụng bao gồm cả “tài sản thuộc đối tượng trưng dụng theo quy định của Luật khác”. Tại điểm d khoản 1 Điều 23, Dự thảo cũng quy định về “người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản theo quy định của Luật khác”.
Theo VCCI, các quy định dạng mở như trên có thể khiến phạm vi trưng mua, trưng dụng tài sản được mở rộng thông qua các luật chuyên ngành. Điều này làm suy giảm tính minh bạch và khả năng dự báo của hệ thống pháp luật, đồng thời tạo rủi ro pháp lý cho nhà đầu tư, doanh nghiệp khi không thể lường trước đầy đủ các trường hợp tài sản hợp pháp của mình có thể bị Nhà nước trưng mua, trưng dụng.
“Việc cho phép các luật chuyên ngành khác tiếp tục quy định thêm về các trường hợp, đối tượng và thẩm quyền sẽ đi ngược lại nguyên tắc tập trung, thống nhất của chính đạo luật này, đồng thời có thể làm phát sinh nguy cơ lạm quyền và phân tán trong áp dụng biện pháp hạn chế quyền tài sản”, VCCI nhận định.
Do đó, VCCI đề nghị bỏ điểm e khoản 2 Điều 6, khoản 6 Điều 22 và điểm d khoản 1 Điều 23; các quy định liên quan đến trưng mua, trưng dụng tài sản cần được tập trung, thống nhất tại Luật này.
Một vấn đề khác được VCCI lưu ý là hình thức và hiệu lực của quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản.
Khoản 2 Điều 7 Dự thảo cho phép trong trường hợp đặc biệt không thể ra quyết định bằng văn bản, người có thẩm quyền được quyết định trưng dụng tài sản bằng lời nói để thực hiện nhiệm vụ được giao và có trách nhiệm ban hành quyết định trưng dụng tài sản ngay khi có điều kiện thực hiện.
Theo VCCI, quy định này chưa thực sự thống nhất với khoản 3 Điều 23 của chính Dự thảo. Bởi khoản 3 Điều 23 quy định trong trường hợp đặc biệt không thể ra quyết định bằng văn bản, người có thẩm quyền quyết định trưng dụng bằng lời nói nhưng phải ghi âm hoặc viết giấy xác nhận việc trưng dụng tài sản ngay tại thời điểm trưng dụng.
Trong khi đó, khoản 2 Điều 7 lại không đặt ra yêu cầu tương tự.
VCCI cho rằng, việc cho phép trưng dụng bằng lời nói nhưng không bắt buộc có biên bản hoặc bằng chứng xác nhận ngay tại thời điểm thực hiện có thể tạo rủi ro pháp lý lớn cho chủ sở hữu tài sản. Nếu phát sinh tranh chấp hoặc tài sản bị hư hỏng, chủ sở hữu có thể phải gánh chịu gánh nặng chứng minh đối với một hành vi hành chính không để lại dấu vết.
Bên cạnh đó, cụm từ “ngay khi có điều kiện thực hiện” cũng chưa đủ rõ ràng, bởi không có tiêu chí xác định thời điểm nào được coi là có điều kiện để ban hành quyết định bằng văn bản.
Vì vậy, VCCI đề nghị sửa khoản 2 Điều 7 theo hướng thống nhất với khoản 3 Điều 23, bắt buộc người có thẩm quyền phải ghi âm hoặc lập giấy biên nhận, xác nhận ngay tại thời điểm trưng dụng bằng lời nói. Đồng thời, cần quy định thời hạn cụ thể, chẳng hạn 24 hoặc 48 giờ, để ban hành quyết định trưng dụng bằng văn bản, thay vì sử dụng quy định định tính.
Ngoài các vấn đề nêu trên, VCCI cũng đưa ra một số góp ý cụ thể đối với Điều 18 về giá trưng mua tài sản, thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản, cơ chế bồi thường thiệt hại do trưng dụng tài sản…
