Gạo nguyên liệu và xuất khẩu duy trì ổn định
Thị trường gạo ngày 1/7 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định. Giá gạo nguyên liệu và gạo bán lẻ không ghi nhận biến động mới, trong khi thị trường xuất khẩu tiếp tục duy trì mặt bằng giá của những phiên trước.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, gạo nguyên liệu CL 555 dao động ở mức 9.200 - 9.300 đồng/kg; gạo IR 504 giữ mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; OM 5451 giao dịch quanh 9.500 - 9.600 đồng/kg. Các chủng loại như Đài Thơm 8, OM 18, OM 380 và Sóc Thơm cũng tiếp tục đi ngang.
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo không có nhiều biến động. Gạo Nàng Nhen vẫn giữ mức cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg, Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg, trong khi gạo Jasmine dao động 16.000 - 17.000 đồng/kg. Các loại gạo trắng thông dụng và gạo thường tiếp tục giữ nguyên mặt bằng giá.
.png)
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam đứng giá so với phiên trước. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine được chào bán ở mức 508 - 512 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 495 - 500 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 347 - 351 USD/tấn.
Trong ngắn hạn, giá gạo trong nước được dự báo tiếp tục ổn định khi nguồn cung dồi dào, trong khi giá xuất khẩu nhiều khả năng duy trì mặt bằng hiện tại nếu nhu cầu từ các thị trường nhập khẩu không có biến động lớn.
Giá tiêu trong nước ít biến động
Thị trường hồ tiêu ngày 1/7 ghi nhận diễn biến ổn định tại các vùng trồng trọng điểm. Giá thu mua trong nước tiếp tục dao động trong khoảng 137.000 - 139.000 đồng/kg, chưa xuất hiện biến động mới so với phiên trước.
Đắk Lắk và Đắk Nông tiếp tục là hai địa phương có mức giá cao nhất cả nước, cùng đạt 139.000 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu duy trì mức 137.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu cũng không ghi nhận nhiều thay đổi. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia được niêm yết ở mức 7.121 USD/tấn, tiêu đen Brazil ASTA 570 giữ mức 5.900 USD/tấn và tiêu đen Malaysia ổn định ở 9.350 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục duy trì trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, giá xuất khẩu giữ ở mức 9.000 USD/tấn.
Trong ngắn hạn, giá hồ tiêu trong nước được dự báo tiếp tục dao động trong biên độ hẹp khi thị trường chưa xuất hiện lực mua đủ mạnh, trong khi hoạt động giao dịch vẫn diễn ra thận trọng ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu.
Thị trường thế giới phân hóa, trong nước ổn định
Giá cao su ngày 1/7 ghi nhận diễn biến phân hóa trên các sàn giao dịch quốc tế. Trong khi giá tại Nhật Bản, Trung Quốc và Singapore tăng nhẹ, thị trường Thái Lan tiếp tục giảm, còn giá thu mua mủ cao su trong nước duy trì ổn định.
Trên Sàn giao dịch Osaka (Nhật Bản), hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 12 tăng 0,1%, lên 410,4 Yên/kg. Tại SICOM (Singapore), hợp đồng cao su giao tháng 7 tăng 0,2%, đạt 209 US cent/kg. Trên Sàn SHFE (Trung Quốc), hợp đồng cao su giao tháng 9 tăng 0,27%, lên 16.660 Nhân dân tệ/tấn.
Ở chiều ngược lại, giá cao su nội địa Thái Lan giao tháng 7 giảm 5,3 Baht, xuống còn 86 Baht/kg. Diễn biến này cho thấy thị trường cao su khu vực vẫn còn giằng co khi kỳ vọng nhu cầu tiêu thụ phục hồi chưa đồng đều giữa các thị trường.
Tại thị trường trong nước, giá thu mua mủ cao su tiếp tục ổn định. Công ty MangYang thu mua mủ nước ở mức 458 - 463 đồng/TSC; Bình Long giữ giá thu mua tại nhà máy 505 đồng/độ TSC/kg; Cao su Bà Rịa duy trì mức 420 đồng/độ TSC/kg, trong khi Phú Riềng chào giá mủ nước 420 đồng/TSC.
Thị trường cao su trong nước nhiều khả năng vẫn giữ ổn định nếu nguồn cung và nhu cầu chế biến không có biến động lớn.
Giá heo hơi tiếp tục giảm nhẹ
.png)
Thị trường heo hơi ngày 1/7 tiếp tục ghi nhận xu hướng giảm tại một số địa phương thuộc miền Bắc và miền Trung - Tây Nguyên, trong khi miền Nam duy trì ổn định. Hiện giá thu mua trên cả nước dao động trong khoảng 61.000 - 67.000 đồng/kg.
Tại miền Bắc, Thái Nguyên và Bắc Ninh cùng giảm 1.000 đồng/kg, xuống còn 66.000 đồng/kg. Hà Nội và Hưng Yên tiếp tục giữ mức 67.000 đồng/kg, cao nhất khu vực cũng như cả nước. Các địa phương còn lại phổ biến ở mức 66.000 đồng/kg.
Ở miền Trung - Tây Nguyên, Thanh Hóa và Đà Nẵng cùng giảm 1.000 đồng/kg. Sau điều chỉnh, Thanh Hóa giao dịch ở mức 66.000 đồng/kg, ngang Nghệ An, trong khi Đà Nẵng về mức 62.000 đồng/kg. Các địa phương khác dao động trong khoảng 62.000 - 65.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá heo hơi tiếp tục đi ngang. Đồng Nai giữ mức cao nhất khu vực với 63.000 đồng/kg; TP.HCM, Vĩnh Long và Cần Thơ ở mức 62.000 đồng/kg. Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang và Cà Mau duy trì mức 61.000 đồng/kg, thấp nhất cả nước.
Trong ngắn hạn, giá heo hơi được dự báo tiếp tục đi ngang đến giảm nhẹ khi nguồn cung ổn định, còn sức mua chưa có nhiều cải thiện.

