Giá gạo xuất khẩu nhích lên
Giá gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ngày 14/8 nhìn chung ổn định, trong khi giá xuất khẩu ghi nhận mức tăng nhẹ so với đầu tuần.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động 9.800 - 9.900 đồng/kg; CL 555 ở mức 9.900 - 9.950 đồng/kg; OM 5451 khoảng 9.300 - 9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Tại thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 500 - 505 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn so với đầu tuần. Gạo thơm 100% tấm ở mức 370 - 374 USD/tấn, Jasmine 538 - 542 USD/tấn.

Trong ngắn hạn, giá gạo được dự báo tiếp tục ổn định, trong khi phân khúc gạo thơm xuất khẩu có khả năng duy trì mặt bằng cao nếu nhu cầu và nguồn cung không có biến động lớn.
Giá hồ tiêu trong nước đi ngang
Tại khu vực Đắk Nông cũ (Lâm Đồng), giá tiêu tiếp tục ở mức cao nhất, đạt 139.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng thứ hai với 138.000 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) cùng ghi nhận mức 136.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.

Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tại các quốc gia sản xuất lớn cũng chưa ghi nhận biến động mới.
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia hiện được niêm yết ở mức 6.856 USD/tấn. Tiêu đen Brazil ASTA 570 đạt 5.900 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia duy trì mức 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục dao động trong khoảng 5.970 - 6.050 USD/tấn, tương ứng với hai chủng loại 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia được chào bán ở mức 9.387 USD/tấn. Giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam hiện ở mức 8.400 USD/tấn, trong khi Malaysia tiếp tục dẫn đầu với 12.200 USD/tấn./.
Sau các nhịp tăng giảm nhẹ thời gian qua, giá tiêu đang có xu hướng đi ngang, cho thấy thị trường tạm thời cân bằng và chưa xuất hiện động lực đủ mạnh để tạo biến động mới.
Cao su thế giới tăng mạnh, trong nước đi ngang
Giá cao su thế giới ngày 14/8 tiếp tục diễn biến tích cực, trong đó cao su kỳ hạn tại Nhật Bản tăng mạnh. Trên Sàn Giao dịch Osaka (OSE), cao su kỳ hạn tháng 9 tăng 15,1 Yên, tương đương 3,49%, lên 447,5 Yên/kg. Hợp đồng tháng 10 tăng 0,71%, lên 426 Yên/kg.
Tại SHFE, cao su kỳ hạn tháng 9 tăng 0,56%, lên 17.025 Nhân dân tệ/tấn. Trên SGX, cao su TSR20 tháng 10 đạt 220,5 US cent/kg, tăng 0,3%. Diễn biến tích cực được hỗ trợ bởi giá dầu đi lên và những lo ngại liên quan đến nguồn cung.
Trong khi đó, thị trường trong nước chưa ghi nhận điều chỉnh. Giá mủ nước tại Mang Yang ở mức 458 - 463 đồng/TSC; Bình Long thu mua 540 đồng/độ TSC/kg tại nhà máy; Cao su Bà Rịa ở mức 420 đồng/độ TSC/kg; Phú Riềng thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Giá cao su thời gian tới có thể tiếp tục được hỗ trợ bởi giá dầu và triển vọng nguồn cung, nhưng nhu cầu từ Trung Quốc và ngành ô tô vẫn là những yếu tố cần theo dõi.
Mặt bằng giá heo hơi tiếp tục lùi xuống

Giá heo hơi tiếp tục giảm tại một số địa phương trên cả ba miền, dù mức điều chỉnh đã thu hẹp so với những phiên trước. Mặt bằng giá trên cả nước hiện dao động trong khoảng 57.000 - 59.000 đồng/kg và không còn địa phương nào đạt mốc 60.000 đồng/kg.
Tại miền Bắc, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng và Ninh Bình cùng giảm 1.000 đồng/kg, xuống 58.000 đồng/kg. Bắc Ninh, Hà Nội và Hưng Yên giữ mức cao nhất khu vực, ở 59.000 đồng/kg, trong khi Cao Bằng, Lào Cai và Sơn La ở mức 57.000 đồng/kg.
Miền Trung - Tây Nguyên tiếp tục ghi nhận mặt bằng thấp, với Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Khánh Hòa cùng giảm xuống 57.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, thị trường tương đối ổn định, riêng Đồng Tháp giảm 1.000 đồng/kg xuống 57.000 đồng/kg.
Giá heo hơi được dự báo tiếp tục duy trì ở vùng thấp trong ngắn hạn khi xu hướng giảm chưa chấm dứt. Mức 57.000 - 59.000 đồng/kg nhiều khả năng vẫn là vùng giá chủ đạo nếu sức mua chưa cải thiện rõ rệt.
