Hơn 45 năm gắn bó với TP.HCM, TS.KTS Võ Kim Cương, nguyên Phó kiến trúc sư Trưởng TP.HCM (sau này là Phó giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc TP.HCM) đã dành phần lớn sự nghiệp để dõi theo và góp sức vào quá trình thành phố mở rộng, thay đổi và định hình diện mạo hôm nay.
Từ những năm đầu tham gia công tác quy hoạch cho đến nay, ông đã chứng kiến không ít những ý tưởng từng chỉ tồn tại trên bản vẽ dần trở thành những con đường, khu đô thị và những không gian mới của thành phố.
Chặng đường ấy giúp ông nhìn rõ hơn những gì quy hoạch đã làm được, những điều còn dang dở và cả những bài toán mà thành phố vẫn chưa thể giải quyết trọn vẹn. Để rồi hôm nay, khi TP.HCM một lần nữa đứng trước một bản quy hoạch với tầm nhìn 100 năm, người đã dành hơn nửa đời mình để nghĩ về thành phố lại tiếp tục nhìn về phía trước sau cuộc sáp nhập lịch sử.
“Biết đâu trong tương lai, mỗi người dân đều có thể tự di chuyển bằng một phương tiện cá nhân, sống cách nơi làm việc hàng trăm cây số mà vẫn đi làm bình thường”, ông chia sẻ.
Trong cuộc trao đổi với chúng tôi, TS.KTS Võ Kim Cương chia sẻ về cách thành phố phải thay đổi mô hình phát triển khi không gian được mở rộng, khoảng cách giữa quy hoạch và thực tế, cách nhìn về một tầm nhìn 100 năm, cũng như những gì quy hoạch sau cùng cần mang lại cho cuộc sống của người dân.

Hơn 45 năm gắn bó với TP.HCM, ông đã chứng kiến thành phố thay đổi rất nhiều trong quá trình đô thị hóa. Nhìn lại chặng đường đó, ông có cảm nhận gì về sự phát triển của TP.HCM hôm nay?
Nhìn lại hành trình 45 năm qua, buồn vui đều có đủ, nhưng điều đọng lại lớn nhất trong tôi vẫn là niềm vui. TP.HCM hôm nay khang trang và hiện đại hơn, cuộc sống và việc đi lại của người dân cũng thuận tiện hơn thấy rõ.
Thành phố đã làm được nhiều điều, thậm chí có những thành quả vượt xa mong muốn ban đầu. Những định hướng, những ấp ủ từ vài thập kỷ trước tưởng chừng dang dở thì nay đang bước dần trở thành hiện thực. Không gian phát triển giờ đây có thể mở rộng xa hơn, vượt qua cả sông Đồng Nai. Đó là những điều mà ngày trước tôi chưa thể hình dung đầy đủ, nhưng hôm nay thành phố đã có đủ điều kiện để biến thành hiện thực.
Dù vậy, quá trình phát triển nhanh cũng để lại những bài toán dang dở cần thêm nhiều thời gian để giải quyết triệt để.

Rõ nhất là ba vấn đề cố hữu về ngập nước, ô nhiễm và ùn tắc giao thông. Thủ Thiêm là một ví dụ, dù được kỳ vọng từ đầu thế kỷ XXI, nhưng sau mấy chục năm vẫn mới chỉ xây dựng được từng mảnh ghép chứ chưa hình thành trọn vẹn một trung tâm đô thị đúng tầm vóc.
Ngoài ra, tôi vẫn tiếc nuối một chút về hướng vươn ra biển. Giá như thành phố có tầm nhìn dài hạn để phối hợp cùng các địa phương lân cận vươn mạnh ra biển từ sớm thay vì chỉ tập trung kết nối Cần Giờ, hẳn TP.HCM đã có một không gian rộng mở và tạo thêm vô vàn lợi thế mới.
Từ câu chuyện phát triển về phía Đông, nhìn rộng hơn, việc TP.HCM sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu đã làm thay đổi bài toán không gian phát triển của thành phố như thế nào, thưa ông?
Thực tế, việc TP.HCM sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu đã làm thay đổi hẳn mô hình phát triển của thành phố. Với TP.HCM cũ, dù nhiều lần đặt mục tiêu phát triển theo hướng đa tâm, đa cực, nhưng trên thực tế đây vẫn là một đại đô thị với một trung tâm chính là khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

Thành phố cũng từng tính đến việc hình thành các đô thị phía Đông, phía Tây, nhưng trong quá trình phát triển, các khu vực này ngày càng dính liền với nhau nên rất khó tách rời. Giờ đây, khi diện tích mở rộng gấp ba lần, dứt khoát thành phố phải chuyển sang mô hình đa tâm. Các cực phát triển vì thế cũng được mở rộng ra ngoài khu vực nội thành.
Sự thay đổi về không gian còn mở ra hướng phát triển mới tiến ra biển. Nếu trước đây thành phố nằm khá sâu trong đất liền, tàu lớn không thể vào thì nay không gian đã vươn từ Cần Giờ đến Hồ Tràm, Xuyên Mộc và ra tận Côn Đảo. Đây là dư địa mới rất lớn cho kinh tế biển, từ dầu khí, du lịch, thủy hải sản đến vận tải.
Việc mở rộng không gian cũng đòi hỏi phải kết nối chặt chẽ các khu vực. Tôi lấy Bình Dương làm ví dụ. Lâu nay, Bình Dương làm ăn theo Bình Dương, TP.HCM làm ăn theo TP.HCM. Hai địa phương dù có liên quan, nhưng công nghiệp và dịch vụ phần lớn vẫn phát triển theo hướng riêng.
Sau sáp nhập, khi đã cùng nằm trong một không gian phát triển, sự kết nối của các địa phương sẽ chặt chẽ hơn. Hàng hóa, nguyên liệu và các dịch vụ sản xuất được tổ chức thuận lợi hơn giữa các địa bàn, đặc biệt có ý nghĩa với hoạt động logistics và hậu cần công nghiệp. Với các nhà đầu tư, không gian mới cũng mở thêm nhiều lựa chọn về địa điểm đặt nhà máy.
Từ đó có thể thấy, lợi thế của TP.HCM mới không chỉ nằm ở quy mô diện tích rộng, mà cốt lõi là khả năng kết nối các nguồn lực để mở rộng dư địa phát triển kinh tế.

TP.HCM hiện đang đứng trước một bước ngoặt lớn khi xây dựng Quy hoạch tổng thể thời kỳ 2025-2050, tầm nhìn 100 năm. Là người theo dõi và tham gia quy hoạch TP.HCM qua nhiều giai đoạn. Từ những kinh nghiệm đó, theo ông, đâu là bài học cần được đưa vào quy hoạch TP.HCM tầm nhìn 100 năm lần này?
Đồ án quy hoạch lần này rất đồ sộ, dài tới 1.400 trang. Thế nhưng, đồ án có lớn đến đâu thì bản chất vẫn chỉ là định hướng xem thành phố sẽ đi theo hướng nào. Những nội dung này cơ bản mới là những bước đi chung, tức là quy hoạch vẫn còn “ở trên trời” chứ chưa “cắm xuống đất”.
Để quy hoạch đi vào thực tế, theo tôi cần giải quyết mấy vấn đề sau.
Trước hết, các công trình, tuyến vành đai phải có kế hoạch và thời hạn cụ thể. Không thể để một tuyến đường dài vài cây số mà làm hàng chục năm không xong.

Thứ hai, quỹ đất ngoài đô thị không thể chỉ gọi chung chung là đất dự trữ hay vùng sinh thái. Chúng ta phải xác định rõ đâu là đất lúa, đâu là đất cây công nghiệp phục vụ sản xuất và sẽ giữ gìn nó ra sao.
Thứ ba là bài toán nguồn lực. Làm kinh doanh thì tư nhân tự có động lực bỏ vốn, nhưng với hạ tầng đô thị, Nhà nước vẫn phải đóng vai trò chủ đạo, từ đó mới huy động thêm được nguồn lực từ xã hội.
Cuối cùng, một bài học đắt giá cần rút kinh nghiệm là vấn đề hợp đồng. Thời gian qua, có những dự án đang làm thì vỡ hợp đồng nhưng chúng ta chưa có cách xử lý dứt điểm. Lấy dự án chống ngập làm ví dụ, khi xảy ra sự cố thì giải quyết hậu quả ra sao, trách nhiệm các bên thế nào, thú thực là chúng ta vẫn còn lúng túng.
Với một TP.HCM có không gian phát triển lớn hơn rất nhiều, dân cư, việc làm và các trung tâm đô thị nên được tổ chức như thế nào trong tầm nhìn 100 năm, thưa ông?
Mục tiêu cơ bản của quy hoạch và tầm nhìn 100 năm vẫn là con người. Các mục tiêu về kinh tế hay môi trường cuối cùng cũng phải hướng tới công ăn việc làm và môi trường sống của người dân.
Đồ án đã xác định 5 cực phát triển, 5 hành lang kinh tế và 10 vùng phát triển. Tất cả những cấu trúc đó đều nhằm tạo điều kiện cho phát triển, mà phát triển cũng chính là tạo thêm việc làm, chỗ ở và điều kiện sống cho người dân.

Đã nói đến đô thị là phải nói đến sự tập trung dân số. Muốn có những đô thị mạnh thì phải biết cách thu hút dân cư tập trung lại, bởi chính sự tập trung ấy mới làm nảy sinh nhu cầu, hình thành nên thị trường và kích thích kinh tế vận hành.
Vì vậy, việc phân bố dân số không thể dàn trải hay cào bằng. Ở điều kiện hiện tại, mô hình TOD (phát triển đô thị nén quanh các nhà ga) là một hướng đi rất phù hợp để vừa gom tụ dân cư, vừa tối ưu hóa dịch vụ và việc làm.
Tất nhiên, đó là câu chuyện của hôm nay. Còn trong 100 năm tới, khi khoa học kỹ thuật và xã hội tiến xa, cách thức con người sống và làm việc có thể sẽ rất khác. Biết đâu mỗi người có thể tự di chuyển bằng một phương tiện cá nhân, sống cách nơi làm việc hàng trăm cây số mà vẫn đi làm bình thường. Hoặc thậm chí người ta cũng chẳng còn phải đến công ty theo cách truyền thống nữa, vì mọi thứ đã làm việc hoàn toàn trên mạng.
Vì vậy, với tầm nhìn 100 năm, chúng ta không thể biết chính xác tương lai sẽ như thế nào mà chỉ có thể xác định hướng đi. Còn trước mắt, sự tập trung dân cư theo các mô hình phát triển bài bản vẫn là yếu tố tất yếu để tạo ra thị trường, nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy thành phố phát triển.
Có ý kiến cho rằng, với quy hoạch có tầm nhìn 100 năm, TP.HCM chỉ nên xác định cụ thể các chỉ tiêu phát triển trong 20–30 năm trước mắt, còn những giai đoạn xa hơn cần có cơ chế điều chỉnh linh hoạt theo tình hình thực tế. Ông nhìn nhận như thế nào về cách tiếp cận này?
Thật ra, nói về tầm nhìn 100 năm bây giờ cũng giống như trước đây chúng ta nói về tầm nhìn 50 năm đều là những định hướng rất xa.
Trong quy hoạch thực tế, các nội dung và chỉ tiêu cụ thể thường chỉ được xác định trong khung thời gian khoảng 15 năm. Đây là giai đoạn mà đồ án có tính pháp lý cao nhất, mang tính bắt buộc và là cơ sở để tổ chức thực hiện. Còn với những định hướng ở tầm xa hơn, tính pháp lý và mức độ ràng buộc vẫn còn khá mơ hồ.
Vì vậy, chúng ta không nên quá lo lắng về con số 'tầm nhìn 100 năm' lần này. Thực chất, các kế hoạch hành động cụ thể vẫn tập trung giải quyết trong 15 năm tới. Còn tầm nhìn 100 năm, trước hết là một định hướng xa, thể hiện quyết tâm và khát vọng phát triển của thành phố.

Ông từng chia sẻ “Quy hoạch 100 năm không phải là “vẽ tương lai” mà là “giữ đúng hướng đi””. Vậy theo ông, đâu là “hướng đi” mà TP. Hồ Chí Minh cần giữ vững, và vì sao lại là hướng đi này?
“Hướng đi” ở đây trước hết là những mục tiêu kinh tế - xã hội lớn đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị và rộng hơn là trong định hướng phát triển chung của đất nước.
Chẳng hạn, TP.HCM phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng đồng thời phải vận hành như một thành phố thị trường. Yếu tố thị trường này sẽ giúp chúng ta biết rõ mình đang cạnh tranh với ai và làm cách nào để vươn tầm toàn cầu. Bên cạnh đó, thành phố cũng phải hướng tới mục tiêu trở thành một nơi đáng sống, có môi trường sinh thái trong lành và lấy đổi mới sáng tạo làm động lực phát triển.
Đó đều là những mục tiêu dài hạn, có thể giữ ổn định trong một thời gian rất dài mà không cần gắn với một công trình hay chỉ tiêu cụ thể nào. Vì vậy, khi nói quy hoạch 100 năm là “giữ đúng hướng đi”, tức là kiên định với những mục tiêu vĩ mô đó. Còn để hiện thực hóa chúng, cách làm và những bước đi cụ thể chắc chắn không thể cố định mà phải linh hoạt điều chỉnh theo từng giai đoạn phát triển.
TP.HCM đang mở rộng và thay đổi từng ngày, nhưng bên cạnh những đổi thay ấy vẫn có những góc phố, công trình, cảnh quan và ký ức đã làm nên một TP.HCM rất riêng. Theo ông, trong quy hoạch 100 năm, thành phố cần giữ lại những gì để một TP.HCM mới vẫn “không đánh mất bản sắc” của mình?
Bản sắc của thành phố trước hết nằm ở các giá trị di sản. Việc gìn giữ những di sản gần như là nguyên lý bắt buộc mà quy hoạch phải tuân theo, chịu sự chi phối của rất nhiều quy định pháp luật khác về bảo tồn di sản.

Thế nhưng, bảo tồn không có nghĩa là giữ nguyên tất cả. Thành phố vẫn phải có những thay đổi, vấn đề nằm ở việc bảo tồn tối đa những giá trị cần giữ lại. Vì vậy, bài toán của người làm quy hoạch khi đụng đến các công trình hay khu vực có giá trị là phải xem xét kỹ từng trường hợp. Chúng ta phải đánh giá đúng giá trị cốt lõi của từng nơi để xác định mức độ bảo tồn sao cho phù hợp và hài hòa nhất.
Từ đầu cuộc trò chuyện, ông nhìn TP.HCM chủ yếu với tư cách một người làm quy hoạch. Nhưng nếu tạm gác công việc ấy sang một bên, là một người đã sống cùng TP.HCM trong nhiều năm, ông mong muốn được nhìn thấy điều gì nhất ở TP.HCM trong tương lai?
Nếu nói về nhu cầu của người dân, dù nhìn ở tầm 100 năm hay xa hơn nữa, tôi nghĩ cuối cùng vẫn trở về một lý tưởng rất cơ bản “Độc lập, tự do, hạnh phúc” như Cụ Hồ đã nêu.
Chúng ta đã có độc lập, vì vậy quy hoạch bây giờ phải làm sao đem lại tự do và hạnh phúc thực sự. Tự do không phải điều gì xa vời mà nằm ngay trong đời sống hằng ngày. Một hệ thống giao thông thông thoáng giúp người dân tự do đi lại. Một không gian văn hóa được bảo tồn tốt giúp họ tự do học tập, vui chơi và tận hưởng đời sống tinh thần.

Hạnh phúc trước hết gắn với những nhu cầu vật chất thiết yếu như cơm ăn, nhà ở hay trường học cho trẻ em. Nhưng nếu quy hoạch chỉ dừng lại ở việc lo bề nổi vật chất thì chưa đủ, mà còn phải chăm lo cho các giá trị tinh thần.
Việc bảo tồn di sản, giữ lại những không gian văn hóa cũng là để gìn giữ những giá trị ấy. Thành phố cần tạo ra những điều kiện để người dân được học tập, được vui chơi, được sinh hoạt văn hóa và được sống theo những điều mình mong muốn.
Mục tiêu cuối cùng của quy hoạch không chỉ là xây dựng một thành phố to đẹp hay hiện đại hơn, mà là nâng tầm giá trị của mỗi con người sống trong đó. Người dân không chỉ cần cơm no áo ấm, mà còn cần những không gian để bồi đắp tâm hồn và tự do thực hiện ước mơ của chính mình.
Đó mới là điều tôi nghĩ một quy hoạch có tầm nhìn dài hạn cần hướng tới.
Xin cảm ơn ông!
