Người Việt đầu tiên đoạt giải kiến trúc bền vững toàn cầu: "Có công trình giành giải thế giới của tôi bị bỏ hoang"

Trương Thu Hường | 22:00 28/07/2026

Công trình ấy từng giúp KTS Hoàng Thúc Hào gặt hái hàng loạt giải thưởng trong nước và quốc tế, nhưng rồi sau nhiều năm lại chìm vào vắng lặng và lãng quên.

Người Việt đầu tiên đoạt giải kiến trúc bền vững toàn cầu: "Có công trình giành giải thế giới của tôi bị bỏ hoang"

Đó là Nhà cộng đồng Suối Rè (Hoà Bình).

Đường từ Hà Nội đến đó không quá xa, di chuyển khá thuận lợi.

Thi thoảng, KTS Hoàng Thúc Hào vẫn thường một mình ghé thăm. Công trình nằm trên mảnh đất đứng tên anh, được xây dành cho cộng đồng. Sau bao năm, nó vẫn đẹp, vẫn mát rượi và sạch sẽ như ngày nào.

“Chỉ là tôi đã từng mặc cho nó một chiếc áo quá rộng”…

text-1.png

Trương Thu Hường: Khi nhìn nhà cộng đồng Suối Rè - công trình do anh thiết kế từng đoạt 7 giải thưởng quốc tế - bị bỏ hoang, chắc một tác giả như anh sẽ rất buồn…

KTS Hoàng Thúc Hào: Thời gian đầu, tôi ức lắm! Có lúc nghẹn lòng chảy nước mắt. Nhưng sau thì cũng quen.

Hồi xây Suối Rè, chủ yếu vì tôi muốn làm một công trình bộc lộ văn hóa Việt.

Thế là tôi tính nó như một cái đình làng hiện đại, hội tụ những đặc điểm văn hóa của vùng đó. Cụ thể ở đấy có đồi, có tre, có đá thì mình tìm cách phản ánh vào kiến trúc.

Đến thời điểm ấy, những bài thi quốc tế của kiến trúc Việt hầu hết nằm trên giấy hoặc dừng ở ý tưởng. Chúng tôi chủ trương cho họ xem văn hóa bản địa thể hiện qua kiến trúc bằng xương bằng thịt như thế nào.

Làm xong rồi mới thấy nó hay. Thấy làm được ít quá, chúng tôi lại nghĩ cách làm tiếp một, hai rồi vài cái nhà cộng đồng khác nữa.

Nhưng cuối cùng nhận ra: nhà cộng đồng duy trì hoạt động rất khó.

q5-1-.png

Trương Thu Hường: Tôi nghe nói đất xây công trình ấy là của anh, nhà thì tặng cho dân bản địa, nhưng rồi chính anh trong suốt nhiều năm lại phải liên tục nghĩ đủ mọi cách để công trình ấy có thể “sống”...

KTS Hoàng Thúc Hào: Đúng vậy.

Quan trọng nhất không phải là vẽ ra cái nhà đẹp, mà người ta có dùng đến nó hay không. Nếu cả tháng, chỉ mấy vị chức sắc thôn bản đến họp 1-2 lần thì coi như vứt đi.

Muốn người ta sử dụng thường xuyên và nhà cộng đồng phát huy đúng giá trị thì toàn xã hội cùng phải quyết tâm. Một nhóm KTS đơn độc không thể làm được.

Khi xây nhà cộng đồng Suối Rè, tôi không làm bừa. Chúng tôi đã 'bắt bệnh' các loại nhà văn hóa bị bỏ hoang ở rất nhiều địa phương để rút kinh nghiệm.

Căn bệnh phổ quát là chả có hoạt động hiệu quả gì mấy. Nhà xây xong, dù to dù bé, người dân chẳng thiết tha...

Thứ hai, cán bộ văn hóa xã, thôn lương không đủ sống. Ngoài nhiệm vụ được phân công, họ không tâm trí nào nghĩ ra thêm hoạt động kết nối cộng đồng.

q1-4-.png

Tôi xuống tận thôn Suối Rè (xã Cư Yên, nay là Liên Sơn) khảo sát, thấy nhà trẻ cũ của làng nằm ở khu đất rất thấp. Ngày mưa nước ngập bốn bề, trẻ con bì bõm lội vào lớp. Trong phòng cũng chẳng khá hơn, sàn nhà lõng võng nước.

Nguyên tắc của chúng tôi: nhà cộng đồng cần tích hợp đa chức năng. Thế là, tôi “bốc” luôn cái nhà trẻ đặt vào trong không gian nhà cộng đồng.

Ngặt một nỗi, chỉ 1 năm sau, xã gom hết các điểm trường lẻ về trung tâm để xây một trường mầm non thật to, “tiết kiệm giáo viên”. Thế là toàn bộ trẻ con thôn Suối Rè phải đi học trường mới cách nhà 3-4 km. Mỗi ngày hai lượt đưa đi đón về, phụ huynh cũng oải.

Tôi tiếc công trình. Tiếc cho người dân. Thương các em nhỏ. Thế là tôi bàn với họ: chúng tôi sẽ tự bỏ tiền túi trả lương cô giáo. Phụ huynh cho con đến chỗ cũ học sẽ thuận đi lại và duy trì được hoạt động cho cái nhà. Mọi người rất ủng hộ. Nhưng nhân viên trong văn phòng 1+1>2 của tôi gạt đi.

Họ nói: “Anh rảnh quá hay sao, đến mức còn muốn đi gánh lương cho người ta chỉ để cái nhà có người dùng”.

Tôi đành buông ý tưởng đó. Nhưng vẫn chưa chịu thua. Thời gian sau, một bạn trẻ lên đó mở xưởng dạy dân làm giấy dó, đèn thủ công để bán. Nhưng làm được đúng 2 tháng, người dân bỏ. Thu nhập từ nghề này chỉ được 3-4 triệu đồng/ tháng, trong khi thanh niên làm công nhân hoặc chạy xe ôm cũng kiếm được 6 - 7 triệu.

Khó lắm! Chúng tôi đã xoay đủ kiểu. Thậm chí còn biến chỗ này thành trung tâm kết nối du lịch của vùng… nhưng đều đổ bể. Cái nhà cuối cùng vẫn bỏ không, dù nó rất đẹp, tình cảm.

Tận bây giờ, mỗi lần lên thăm, tôi vẫn thấy tiếc. Nhưng cũng hiểu đó không chỉ là trách nhiệm của cá nhân KTS. Bởi thật lòng, hiếm KTS nào như chúng tôi - lo cho một công trình đến mức ấy.

12345
text-2.png

Trương Thu Hường: Thế những nhà cộng đồng khác của anh, cũng rất đẹp, cũng đoạt nhiều giải quốc tế, như nhà cộng đồng Tả Phìn, nhà cộng đồng xã Cẩm Thanh (Hội An)… Liệu số phận có giống Suối Rè?

KTS Hoàng Thúc Hào: Nhà cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa riêng của từng vùng. Nó rất hay. Nhưng rốt cuộc vẫn chưa phải nhu cầu thiết yếu.

Khi xây nhà cộng đồng Tả Phìn ở Sa Pa, chúng tôi phải đi mua đất. Bởi khu đất chúng tôi được giao trước đó nằm trên triền núi rất dốc. Nếu làm thì tiền làm móng tốn hơn xây nhà. Thế là tôi và một số nhà hảo tâm tự chọn khu đất khác, tiện người dân hàng ngày đi qua, dễ bề sinh hoạt.

Nhưng rồi nó cũng bị lãng quên.

Một công trình khác nữa khiến tôi thất vọng là nhà cộng đồng Cẩm Thanh (Hội An).

Vùng này nổi tiếng với những rặng cau xanh mướt. Khi thiết kế, tôi muốn trồng một vườn cau làm điểm nhấn bản sắc cho công trình. Lần đầu trồng, cau chết sạch. Lần thứ hai, cau vẫn chết.

Tôi hỏi người dân ở đấy, họ bảo: 'Anh bê cây cau đi chỗ khác là sai hướng mặt trời, cây không sống được'. Nghe lời họ, tôi căn đúng hướng để trồng lại toàn bộ, kết quả vẫn như cũ.

Mỗi lần như thế mất 20-30 triệu đồng.

Tôi phải cầu cứu các chuyên gia nông nghiệp hàng đầu. Cuối cùng, tôi phát hiện khu đất này lấn ra biển, bị nhiễm mặn. Tôi tự bỏ ra thêm 70-80 triệu đồng, thuê xe múc toàn bộ lớp đất cũ lên sâu cả mấy mét, rồi chở đất thịt mới từ nơi khác về đổ đầy để trồng cau.

Ban đầu, cau tươi tốt. Nhưng chỉ sau 1,5 năm, tất cả lại chết khô. Đến nước đó, tôi mới chịu thua vì hết cách.

Bây giờ, nhà cộng đồng Cẩm Thanh vẫn hoạt động nhưng tiếc là khó khăn trong duy tu bảo dưỡng. Công trình vẫn ổn, nhưng không được toàn vẹn như ban đầu.

Trương Thu Hường: Trong rất nhiều chuyện anh kể, tôi thấy rất rõ sự cố chấp. Anh cố gắng như thế là vì điều gì? Vì anh muốn cái nhà mình xây có người dùng? Hay vì thật sự muốn tốt cho cộng đồng?

KTS Hoàng Thúc Hào: Vì cả hai. Vì có người dùng thì mới có ích cho cộng đồng.

q4-4-.png
text-3.png

Trương Thu Hường: Thế các công trình của anh thật sự tác động thế nào đến cộng đồng? Chẳng hạn, nó có giúp giữ người trẻ ở lại quê hương không?

KTS Hoàng Thúc Hào: Nếu nói riêng về việc giữ chân người trẻ thì ít, rất ít!

Người ta có thể tự hào và thích công trình kiến trúc gắn với bản sắc quê hương họ. Nhưng nó chỉ giúp họ nhận ra là: “À, hóa ra những hòn đất, cục đá hay cành lá này… nếu làm khéo thì nó cũng đẹp và đáng quý như thế”. Nhưng chừng đó không đủ để giữ họ ở lại.

Túi tiền, miếng cơm manh áo vẫn quan trọng hơn kiến trúc.

Nhưng nếu kiến trúc gắn với một nhu cầu thực hoặc cộng hưởng với tiềm năng sinh kế sẵn có của địa phương thì sẽ khác. Ví dụ như quy hoạch làng đất Nậm Đăm (Hà Giang cũ, nay là Tuyên Quang). Sau khi hoàn thành, ngôi làng nổi tiếng, đạt chuẩn ASEAN về du lịch cộng đồng năm 2018. Khách quốc tế đến đông hơn, người dân có thêm thu nhập. Nhiều gia đình mở rộng homestay, con cái họ tiếp tục làm du lịch rồi chọn ở lại với quê hương.

Hay như nhiều trường do chúng tôi thiết kế, xây dựng từ đóng góp của các mạnh thường quân và nỗ lực của chính quyền, người dân. Trước đây chỉ khoảng 100 học sinh, nhưng sau khi có trường mới đã tăng lên 150, thậm chí 250 em. Trường đẹp, trưa được ăn miễn phí, nên trẻ con thích đi học.

Đội ngũ chuyên xây trường của công ty tôi có rất nhiều người vùng cao. Có cậu người dân tộc Tày từng học ở trường bọn tôi xây hơn 10 năm trước. Sau này vì yêu nghề xây dựng mà đi theo công ty. Bây giờ cậu đã có gia đình và trở thành kỹ sư giám sát công trình rất khá.

Nhiều người khác cũng như cậu. Có bạn dân tộc H’mong, có bạn là người Dao, người Hoa, người Thái. Có bạn học Đại học, có người không. Họ được đào tạo qua thực chiến ngay trên công trường, học những thứ mà không trường lớp nào dạy.

Còn dân bản trong quá trình cùng tham gia xây trường cho con em mình, họ học cách ép gạch, khai thác đất đá, xử lý tre gỗ theo công nghệ mới… rồi tự dùng những vật liệu sẵn có ấy để sửa nhà, làm chuồng trại, xây công trình phụ cho gia đình, mở rộng sản xuất.

Kiến trúc tất nhiên không phải vạn năng. Nhưng là công cụ đánh thức những giá trị vốn có và góp phần biến chúng thành nguồn lực kinh tế.

12345
text-4.png

Trương Thu Hường: Có phải vì nhận ra: kiến trúc chỉ phát huy giá trị khi cả xã hội cùng vận hành với nó, nên anh đã chuyển qua làm nhiều việc khác, trong đó có việc xây trường học cho các vùng yếm thế?

KTS Hoàng Thúc Hào: Đúng. Trường học là nhu cầu thiết yếu. Dù cộng đồng có nghèo đến mức nào, họ vẫn muốn cho con đi học. Hàng ngày học sinh đến lớp. Thầy cô và các cháu luôn quét dọn, giữ gìn nên trường có sinh khí.

Phòng học có thể tận dụng làm hội trường cho các cuộc họp lúc cần. Người dân xem sân trường là nơi tổ chức đám cưới hoặc phơi thóc, phơi lạc... rất hiệu quả.

Từ 2015 đến nay, chúng tôi đã góp công thiết kế và xây hơn một nửa trong tổng số hơn 200 trường, bắt đầu từ dự án hợp tác với GS Ngô Bảo Châu và anh Trần Đăng Tuấn.

Trương Thu Hường: Xây nhiều trường như thế, thách thức lớn nhất anh gặp phải?

KTS Hoàng Thúc Hào: Mỗi ngôi trường là một câu chuyện rất khác nhau.

Như cái trường ở Mường Nhé, lúc thiết kế và xây dựng đường sá chưa có. Đường tới trường toàn bùn, đá. Từ ngoài thị xã vào xa tới 5 - 6 km chỉ đi bộ. Mãi đến khi gần xong, mới có điều kiện đổ đường bê tông.

Đang xây trường thì lũ quét tràn về. Thợ thuyền bị cô lập, ở tịt trong đấy mấy tháng trời. May mà người dân quý nên tiếp tế đồ ăn, chứ không thì “chết đói”.

Chính ở dự án đó, bọn tôi đã tự chế ra máy ép gạch bằng cách lấy đất trộn phụ gia, để ngoài trời 4 - 5 ngày là gạch cứng ngắc rồi đem xây. Về sau, tất cả trường vùng cao đều xây bằng loại gạch đất tự túc này, không phải vận chuyển vật liệu từ dưới xuôi.

q3-3-(1).png

Các trường vùng sâu hầu hết không sơn. Nó có màu tự nhiên của đất và nắng gió đại ngàn. Chúng tôi tận dụng cả đá, tre, nứa, lá… những vật liệu bản địa sẵn có, giản đơn.

Dù thế, xây trường vùng núi rất cực nhọc.

Có lần anh em đang lái xe tải chở đồ qua suối ở Điện Biên thì lũ tràn về bất chợt. Cái xe to và nặng như thế mà bị cuốn phăng đi. Anh em vứt xe, nhảy phóc lên bờ, kịp thoát thân. Người thì sống, nhưng xe bị lũ cuốn dạt ra xa, chỏng chơ ở đó cả tuần không sửa được.

Lần khác, anh em đang làm gạch đất, bất ngờ bị sét đánh, hất văng thợ đang làm gạch, sợ tái mặt. Từ đó, chúng tôi phải chế tạo thêm thiết bị chống sét, đảm bảo an toàn cho mọi người.

Những trải nghiệm đó, đến giờ nghĩ lại thấy vừa sợ vừa buồn cười.

Trương Thu Hường: Nghe anh kể về gian nan và xem những bức ảnh trường vùng hẻo lánh do các anh thiết kế, tôi tự nhiên xúc động. Có lẽ vì trường đều đẹp, tình cảm và quan trọng là phản ánh bản sắc văn hoá của vùng đất sinh ra nó.

KTS Hoàng Thúc Hào: Thực ra, xây tới hàng trăm công trình mà vẫn vỗ ngực bảo rằng tất cả đều độc đáo thì có lẽ là nói phét. Nhưng thú vị nhất là mỗi công trình đều được chúng tôi "may đo" cho riêng mảnh đất ấy: có nơi bám theo triền dốc, nơi ôm lấy gốc cây cổ thụ, nơi tận dụng ruộng bậc thang hay cảnh sắc địa phương.

Chúng tôi không muốn nhân bản kiến trúc. Tôi muốn mỗi công trình, dù bé nhỏ, đều kể được câu chuyện về vùng đất nó sinh ra.

Trương Thu Hường: Vậy trong số nhiều công trình đã đi qua, công trình nào nổi bật và đáng nhớ nhất với anh.

KTS Hoàng Thúc Hào: Tất cả đều đáng nhớ. Nhiều công trình đã được quốc tế biết đến. Nhưng có hai công trình rất khác nhau tôi muốn kể.

Một công trình đem lại cho chúng tôi Giải thưởng Robert Matthew của Hiệp hội Kiến trúc sư Thế giới (UIA) - khu nhà ở công nhân của Hóa chất Đức Giang Lào Cai.

Tôi giữ nguyên địa hình quả đồi hai cánh cung, tạo hai dãy nhà sáu tầng ôm theo sườn đồi. Người đứng ở hành lang bên này vẫn có thể gọi với sang hành lang bên kia. Chúng tôi muốn khi ở chung cư, công nhân vẫn giữ được cảm giác gần gũi, vơi nỗi nhớ nhà, nhìn thấy nhau và sống với nhau như trong bản làng.

Công trình thứ hai, tái thiết làng Nủ. Sau trận lũ, chúng tôi chỉ có đúng hai tuần thiết kế và ba tháng thi công, cùng lực lượng Bộ Quốc phòng. Công trình hoàn toàn lắp ghép từ các cấu kiện công nghiệp, nhưng khi dựng lên vẫn mang dáng dấp những ngôi nhà sàn gỗ của người Tày.

123
avar-4-(1).png

Trương Thu Hường: Sau hơn 30 năm làm nghề, khi nhìn lại, điều gì khiến anh hạnh phúc nhất?

KTS Hoàng Thúc Hào: Hạnh phúc lớn nhất chính là quá trình anh em tự nguyện dấn thân cùng làm việc. Dù trải qua nhiều va đập, đến giờ, chúng tôi vẫn nhiều cảm hứng, vẫn khát khao và chưa bao giờ thấy cạn kiệt ý tưởng.

Đi nhiều, chúng tôi nhận thấy rõ văn hóa là cội nguồn sáng tạo vô tận. Mỗi vùng đất, mỗi cộng đồng, mỗi chất liệu chúng tôi trải nghiệm đều giúp tăng trữ lượng văn hóa và nội lực trong chúng tôi.

Khi mang những công trình bằng đất, bằng đá, những gì rất Việt Nam ra triển lãm ở phương Tây, họ xúc động vì cảm nhận được sự chân thành. Họ bảo: “Kiến trúc ở đây hạnh phúc, bình yên quá!”.

Bản thân tôi, mỗi lần quay lại nhà cộng đồng Suối Rè vẫn nao lòng. Nó đẹp, khiêm nhường và chan chứa bao tình cảm.

KTS Hoàng Thúc Hào (SN 1971) hiện là Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam, giảng viên Đại học Xây dựng Hà Nội, sáng lập văn phòng 1+1>2.
Anh là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất hiện nay giành 2 giải thưởng lớn của Hiệp hội KTS Quốc tế - UIA. Giải Vassilis Sgoutas (2017): Vinh danh nỗ lực sáng tạo kiến trúc cho người nghèo, nông thông & vùng sâu vùng xa. Giải Robert Matthew (2023): Vinh danh các giải pháp kiến trúc nhân văn, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ và cải thiện chất lượng môi trường.
Anh cũng đoạt Giải thưởng Kiến trúc Bền vững Toàn cầu năm 2025 và nhiều giải thưởng danh giá quốc tế.


(0) Bình luận
Người Việt đầu tiên đoạt giải kiến trúc bền vững toàn cầu: "Có công trình giành giải thế giới của tôi bị bỏ hoang"
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO