Từ khủng hoảng dầu 1973 đến chiến tranh Iran: vì sao lần này Fed có thể gặp rủi ro lớn hơn

Bình Minh | 21:56 15/03/2026

Giá dầu tăng vọt lên 120 USD/thùng trong cuộc chiến với Iran đang đẩy nền kinh tế Mỹ vào một phép thử mới. Khi chi phí năng lượng leo thang đe dọa thổi bùng lạm phát và làm chậm thị trường việc làm, Fed có thể sớm phải đối mặt với bài toán khó nhất kể từ cú sốc dầu mỏ năm 1973.

Từ khủng hoảng dầu 1973 đến chiến tranh Iran: vì sao lần này Fed có thể gặp rủi ro lớn hơn
Tòa nhà Marriner S. Eccles của Cục Dự trữ Liên bang, trụ sở chính của Fed

Cuộc khủng hoảng dầu mỏ toàn cầu tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ có thể trở thành vấn đề lớn đối với Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), khi các nhà hoạch định chính sách của cơ quan này họp trong tuần này để quyết định bước đi tiếp theo cho nền kinh tế Mỹ.

Cuộc chiến của Tổng thống Donald Trump với Iran đã đẩy giá dầu tăng vọt, với dầu chuẩn Mỹ West Texas Intermediate (WTI) có lúc chạm mức 120 USD/thùng vào tuần trước, đe dọa làm tăng chi phí của hầu hết mọi thứ mà người Mỹ mua. Đồng thời, chi phí năng lượng cao hơn có thể gây sức ép lên doanh nghiệp và các hộ gia đình, làm chậm tuyển dụng và kìm hãm tăng trưởng kinh tế.

Mối đe dọa kép giữa lạm phát cao hơn và thị trường lao động suy yếu đang đẩy các quan chức Fed vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”, đúng vào lúc Kevin Warsh, người được ông Trump đề cử lãnh đạo ngân hàng trung ương, đang chờ Thượng viện phê chuẩn - một thời điểm đặc biệt bất lợi cho bất kỳ quan chức nào muốn lập luận rằng nên hạ lãi suất.

Fed chưa phải đối mặt với cú sốc dầu mỏ nghiêm trọng như vậy kể từ Arab-Israeli War 1973, sự kiện đã châm ngòi cho giai đoạn stagflation (lạm phát cao đi kèm tăng trưởng trì trệ) khét tiếng của thập niên đó. Tuy nhiên, nền kinh tế Mỹ ngày nay đã rất khác và ngân hàng trung ương khó có khả năng phản ứng theo cách của nửa thế kỷ trước, khi việc tăng lãi suất mạnh tay đã đẩy nền kinh tế vào suy thoái.

So sánh các cú sốc dầu mỏ

Là quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới, Mỹ hiện phụ thuộc vào dầu nhập khẩu ít hơn nhiều so với trong các cuộc khủng hoảng năng lượng trước đây. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, sự gián đoạn đối với thị trường năng lượng toàn cầu lần này lại lớn hơn.

Nicholas Mulder, giáo sư lịch sử tại Cornell University, người nghiên cứu tác động kinh tế của chiến tranh, nói với CNN:

“Tổng lượng sản xuất dầu ở vùng Vịnh hiện đang bị đình trệ do cuộc chiến này lớn hơn nhiều so với thời điểm đó. Chúng ta đang nói đến khoảng 20 triệu thùng so với khoảng 4,5 triệu thùng năm 1973… vì vậy quy mô lần này thực sự lớn gấp nhiều lần.”

Vào tháng 10 năm 1973, Ai Cập và Syria bất ngờ tấn công Israel trong một cuộc xung đột nhanh chóng leo thang và cuối cùng kéo Mỹ vào cuộc.

Các quốc gia Ả rập thuộc Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) sau đó cắt nguồn cung dầu cho các nước phương Tây để trả đũa. Điều này gây tổn hại nghiêm trọng cho nền kinh tế Mỹ, vốn khi đó phụ thuộc nặng nề vào dầu nhập khẩu.

Dưới thời Chủ tịch Fed khi đó là Arthur Burns, các nhà hoạch định chính sách đã do dự trong việc tăng lãi suất, cho rằng nhiều yếu tố khiến lạm phát tăng, bao gồm cú sốc dầu mỏ, nằm ngoài tầm kiểm soát của chính sách tiền tệ. Dù sau đó Fed cũng nâng lãi suất, việc thực hiện theo kiểu “lúc tăng lúc giảm” rời rạc đã khiến lạm phát ăn sâu và không giúp củng cố tăng trưởng kinh tế.

Một nhà kinh tế khi đó từng nói tại cuộc họp quyết định lãi suất của Fed: “Câu hỏi là liệu chính sách tiền tệ có thể hoặc nên làm gì để chống lại mức lạm phát dai dẳng… Theo tôi, câu trả lời là không. Chúng ta nên xem các đợt tăng chi phí liên tục là vấn đề mang tính cấu trúc, không thể giải quyết bằng các biện pháp kinh tế vĩ mô.”

dau.jpg
Trong bức ảnh lưu trữ ngày 23/12/1973 này, những chiếc xe xếp thành 2 hàng tại một trạm xăng ở thành phố New York. - Marty Lederhandler/AP

Ngày nay, Mỹ là nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới và có nền kinh tế dựa nhiều vào dịch vụ, khiến nước này ít bị tổn thương hơn trước việc cắt giảm sản lượng dầu toàn cầu. Đồng thời, các quan chức Fed - rút kinh nghiệm từ sai lầm của Burns - hiện tin rằng chính sách tiền tệ vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý các cú sốc kinh tế.

Tuy vậy, Josh Freed, Phó chủ tịch cấp cao phụ trách chương trình khí hậu và năng lượng tại Third Way, cảnh báo:

“Chúng ta đang ở trong tình huống các cơ sở năng lượng bị tấn công bởi máy bay không người lái và tên lửa của Iran. Đó là những thiệt hại vật lý có thể mất nhiều thời gian để sửa chữa, vì vậy tình hình này có khả năng còn tồi tệ hơn cả lệnh cấm vận dầu mỏ những năm 1970. Mức độ bất định là rất lớn.”

daumy.jpg
Giá xăng mỗi gallon được hiển thị trên bảng hiệu tại một trạm xăng ở Miami vào ngày 9/3/2026. - Joe Raedle/Getty Images

Người Mỹ đã bắt đầu cảm nhận tác động

Người Mỹ đã bắt đầu cảm thấy áp lực khi đổ xăng, và cuộc chiến cũng bắt đầu ảnh hưởng đến kỳ vọng của người dân về lạm phát. Khảo sát người tiêu dùng mới nhất của Đại học Michigan công bố hôm thứ Sáu cho thấy tâm lý người tiêu dùng trong tháng này giảm 2% so với tháng 2, với ngày càng nhiều người nhắc đến cuộc chiến trong câu trả lời của họ.

Ở thị trường lao động, dư địa cũng không còn nhiều. Cục Thống kê Lao động (Bureau of Labor Statistics) cho biết đầu tháng này rằng các doanh nghiệp đã cắt giảm 92.000 việc làm trong tháng 2, khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 4,4% từ mức 4,3%. Một báo cáo khác công bố hôm thứ Sáu cho thấy số vị trí tuyển dụng tăng thêm 400.000 trong tháng 1 so với tháng 12, nhưng số người thất nghiệp vẫn nhiều hơn số việc làm đang mở.

Tani Fukui, Giám đốc cấp cao về chiến lược kinh tế và thị trường tại MetLife Investment Management, nhận định:

“Gần như chắc chắn cuộc chiến với Iran sẽ tạo ra tác động lạm phát. Nhưng mức độ lớn đến đâu vẫn là câu hỏi còn bỏ ngỏ.”

Trong cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này, câu hỏi đối với người Mỹ không chỉ là giá cả sẽ tăng cao đến mức nào, mà còn là liệu Fed có thể rút ra bài học từ lịch sử để ngăn nền kinh tế trượt dốc hay không.


(0) Bình luận
Từ khủng hoảng dầu 1973 đến chiến tranh Iran: vì sao lần này Fed có thể gặp rủi ro lớn hơn
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO