w_05.jpg
w_08.jpg

Nhìn lại 40 năm Đổi mới, ông thấy gì từ sự chuyển mình của Việt Nam?

Theo tôi, 40 năm Đổi mới của Việt Nam là quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Quá trình này có hai nhánh song hành: một là cải cách trong nước, chuyển đổi sang kinh tế thị trường; hai là mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong đó, mốc 1986 không thể không nói đến, đây là thời điểm quyết định có tính bước ngoặt, lịch sử, nhưng cần hiểu chính xác: đó là mốc Việt Nam dứt khoát từ bỏ mô hình cũ, còn mô hình mới khi ấy vẫn đang trong quá trình định hình. Khái niệm “kinh tế thị trường” lúc đó chưa thật sự được xác lập rõ ràng, và di sản của kế hoạch hóa tập trung vẫn còn tồn tại.

Nhưng chính quyết định “cắt đứt” với cơ chế cũ ấy đã mở ra không gian cho những cải cách thực chất sau đó.

w_10.jpg

Trong giai đoạn đầu, đâu là những quyết định tạo ra bước đột phá thực sự cho nền kinh tế?

Giai đoạn 1986-1990, khoán 10 xuất hiện, tạo ra đột phá mang tính kích hoạt. Lần đầu tiên, hộ sản xuất nông nghiệp được nhìn nhận như một đơn vị sản xuất tự chủ, được quyền quyết định sản xuất gì, bán cho ai, với giá nào. Sau đó, kết quả đến rất nhanh: miền Bắc từ thiếu đói nghiêm trọng, chỉ sau một thời gian ngắn, thị trường đã dồi dào gạo và các loại nông sản khác, thậm chí Việt Nam bắt đầu xuất khẩu 1,5 triệu tấn ra thế giới. Thành công ấy tạo ra niềm tin vào sự thay đổi đang đi đúng hướng, khuyến khích sản xuất.

Sau đó, giai đoạn 1990–1992 mới là bước ngoặt chuyển đổi toàn diện nhất sang kinh tế thị trường mà ít người nhắc tới. Lúc này, bãi bỏ bao cấp, bỏ tem phiếu tồn tại mấy chục năm ở miền Bắc là một sự thay đổi khủng khiếp và thời 90 trở đi Việt Nam mới bỏ được hoàn toàn.

w_12.jpg

Cùng với đó, chúng ta đẩy mạnh tự do hóa giá cả, cải cách mạnh khu vực doanh nghiệp nhà nước, đồng thời Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 và Luật Công ty 1990 ra đời để mở đường cho khu vực tư nhân.

Quan trọng hơn, Việt Nam cũng thay đổi cách điều hành kinh tế vĩ mô: từ tư duy “bơm tiền để tăng trưởng” sang kiểm soát tổng cầu, thắt chặt chính sách tài khóa – tiền tệ để chống lạm phát. Có hai khẩu hiệu thời đó, về chính sách tài khóa, thắt chặt nghĩa là "thu để chi", tức là chi tiêu chỉ trong phạm vi nguồn thu, không bội chi ngân sách. Còn chính sách tiền tệ thực hiện chính sách lãi suất dương, nghĩa là lãi suất phải cao hơn lạm phát. Hồi đó, lãi suất lên đến mười mấy phần trăm một tháng vì lạm phát cao.

w_14.jpg

Nếu nhìn từ góc độ cải cách thể chế, đâu là những quyết định đã thực sự giải phóng sức sản xuất của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân?

Tôi cho rằng mốc 2000 là thời điểm khu vực tư nhân được “cởi trói” rõ rệt nhất về quyền tự do kinh doanh. Trước đó, doanh nghiệp về cơ bản vẫn chỉ được làm những gì cơ quan nhà nước cho phép. Sau khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời, tư duy thay đổi căn bản: quyền kinh doanh là quyền của người dân, người dân thành lập doanh nghiệp là chuyện đương nhiên, không phải đi “xin”.

Trong Luật Doanh nghiệp 1999 không có từ "xin", và trong thiết kế hồ sơ sau này cũng vậy. Giấy tờ trước đây gọi là "xin phép thành lập" được chuyển đổi thành "giấy đề nghị đăng ký thành lập doanh nghiệp".

w_16.jpg

Sau đó là một cuộc cách mạng về thủ tục hành chính trong thành lập doanh nghiệp. Doanh nghiệp từng mất 6 tháng đến 3-4 năm để làm thủ tục thành lập, nay chỉ còn 10 ngày làm việc, chi phí thành lập từ khoảng mấy chục lần GDP/người thời điểm đó, rút xuống còn 200.000 đồng, hồ sơ thủ tục đi xin từ một tập dày nộp cho tổ dân phố đến UBND tỉnh, nay chỉ còn bốn loại hồ sơ đơn giản.

Nhưng sâu xa hơn, điều quan trọng nhất là Luật Doanh nghiệp xác lập nguyên tắc rất hiện đại: doanh nghiệp được kinh doanh tất cả những gì pháp luật không cấm. Đó mới là tinh thần cốt lõi của kinh tế thị trường, đồng thời là nền tảng để chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và mở rộng tối đa không gian cho khu vực tư nhân phát triển.

Tuy nhiên, những luật chuyên ngành sau đó đã “gặm nhấm” những thành quả cải cách mà Luật Doanh nghiệp tạo ra, đem nhiều giấy phép con với hoạt động kinh doanh quay trở lại. Bên cạnh đó, thay vì tiếp tục mở rộng không gian cho khu vực tư nhân, có thời điểm chúng ta đặt kỳ vọng lớn vào mô hình các tập đoàn kinh tế Nhà nước, để tăng trưởng mạnh. Mục tiêu là tốt, nhưng công cụ lại không phù hợp, khiến nền kinh tế vĩ mô gặp khó khăn trong một thời gian.

Thực tế, từ năm 2007, hội nhập quốc tế của Việt Nam đi rất nhanh, nhưng cải cách trong nước lại chững lại. Đổi mới kinh tế Việt Nam giống như hai cánh của một con chim: một cánh là cải cách trong nước, một cánh là hội nhập quốc tế. Hai cánh phải cùng mạnh thì mới bay cao, bay xa. Nhưng giai đoạn đó, chúng ta nghiêng quá mạnh về hội nhập, trong khi cánh cải cách trong nước bắt đầu gặp một số vấn đề.

w_18.jpg

Nghị quyết 68 được coi là bước đột phá trong việc khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân, nhưng vẫn có những băn khoăn về việc kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, chứ không phải “là động lực quan trọng nhất”. Ông có nhận xét gì về điều này?

Trước tiên, phải khẳng định rằng, Nghị quyết 68 là một đột phá về mặt tư duy trong việc chuyển đổi sang kinh tế thị trường và phát triển kinh tế tư nhân. Lần đầu tiên trong một Nghị quyết của Đảng, kinh tế tư nhân được thừa nhận vai trò đáng có của nó trong nền kinh tế đất nước.

Còn về từ “một động lực quan trọng nhất” thì mình tham gia rất nhiều cuộc họp nên hiểu và chia sẻ vì sao lại có từ “Một” đó. Tuy nhiên, phải đọc hết các câu phía sau của Nghị quyết 68 và nghe các phát biểu của Tổng bí thư Tô Lâm thì có thể thấy vai trò thực sự của kinh tế tư nhân được định nghĩa thế nào.

Tổng bí thư đã nói: “Kinh tế tư nhân là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tái cấu trúc nền kinh tế” và “cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng   ”.

Với những vai trò như thế, vị thế đáng có của kinh tế tư nhân đã đạt đến đỉnh cao rồi, không còn gì hơn nữa. Về căn bản, các nước có kinh tế thị trường đầy đủ cũng chỉ thế thôi.

w_20.jpg
w_22.jpg

Không chỉ có Nghị quyết 68, rất nhiều thay đổi tích cực khác về thể chế cũng được ban hành trong 2 năm gần đây. Là một chuyên gia có nhiều năm tham gia xây dựng chính sách, ông có nhận xét gì?

Khi nghe các phát biểu của Tổng bí thư Tô Lâm từ khi ông nhậm chức, tôi đã nhiều lần khẳng định: “Việt Nam chưa bao giờ có cơ hội thuận lợi như bây giờ để cải cách thể chế!”. Trước đây, khi làm chính sách, chúng tôi luôn phải dè chừng: “Cái này có làm được không?”, còn giờ thì không có rào cản nào cả. Cơ hội thuận lợi như vậy là nhờ sự thay đổi tư duy của lãnh đạo.

Tổng bí thư đã nói rằng: “Chúng ta phải dứt khoát từ bỏ tư duy ‘Không quản được thì cấm’. Luật pháp phải được ban hành chủ yếu để tạo cơ hội và không gian phát triển. Luật pháp phải hướng đến hậu kiểm, kiểm soát dựa trên kết quả, bỏ kiểm soát theo quy trình”. Đây không phải thay đổi tư duy tích cực mà là đột biến.

Vấn đề cốt lõi đang ảnh hưởng đến thể chế và luật pháp hiện nay của chúng ta là tư duy làm luật để quản lý. Chính tư duy làm luật để quản lý đó đã tạo ra cơ chế xin cho, giấy phép và các rào cản. Những rào cản này là công cụ quản lý đối với cơ quan nhà nước, nhưng lại là trở ngại cho người dân và doanh nghiệp. Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đã nói rõ điều này.

Về tư duy và định hướng chuyển đổi đã rành mạch và rõ ràng rồi, vấn đề còn lại là thực thi như thế nào để có thể xóa bỏ các rào cản trong kinh doanh đối với người dân, doanh nghiệp.

w_24.jpg

Thực tế trước đây cho thấy, không ít bộ ngành tuyên bố đã xóa bỏ rất nhiều giấy phép con, nhưng doanh nghiệp, người dân vẫn không cảm nhận được sự thay đổi đó. Vậy làm thế nào có thể xóa bỏ các rào cản trong kinh doanh trên thực tế chứ không phải “trên giấy” hay hô khẩu hiệu?

Trước khi loại bỏ rào cản thì phải xác định được rào cản là gì? Nếu không xác định đúng rào cản thì làm sao có thể loại bỏ được. Thực tế, việc tuyên bố đã bỏ tất cả rào cản nhưng thực tế lại không bỏ được cái nào, hoặc “đã bỏ được 30-40%” nhưng lại không có tác động thực sự bởi góc nhìn khác nhau.

Việc gọi đó là "rào cản" thường xuất phát từ góc nhìn của người dân và doanh nghiệp, hoặc từ góc độ cải cách kinh tế thị trường, mở rộng quyền tự do kinh doanh. Nhưng nếu đứng về phía cơ quan quản lý nhà nước, đó lại là công cụ quản lý của họ.

Vì thế, nếu chỉ dựa vào các bộ, ngành để xác định rào cản, thì cuối cùng sẽ chỉ xác định và loại bỏ những thứ hình thức, không thực sự ảnh hưởng đến người dân hoặc không phải là rào cản bản chất. Thay vào đó, nếu lấy kiến nghị của người dân, doanh nghiệp cùng với phân tích đánh giá độc lập của đội ngũ chuyên gia, lúc đó mới xác định được đúng rào cản thực chất.

Vì vậy, việc thực thi là cực kỳ quan trọng. Một báo cáo thành tích nghe có vẻ hay nhưng chưa chắc phản ánh thực tế. Hồi trước, anh em chúng tôi làm, bỏ được một giấy phép thôi đã làm rung động thị trường rồi.

w_26.jpg

Rào cản kinh doanh bản chất là quyền lợi của người ta. Điều rất bình thường là người ta không bao giờ tự nguyện từ bỏ quyền lợi của mình cả. Vì vậy, phải thay đổi cách thức thực thi. Người đứng đầu phải hiểu, và phải tạo áp lực; rồi cộng thêm áp lực và giám sát từ xã hội nữa, xem các ông có làm đúng không, có tác động thực sự không…

Tiếp đến là phải bám sát các mục tiêu để điều chỉnh các biện pháp thực thi. Mục tiêu theo Nghị quyết là có 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, và bây giờ mới có khoảng 1 triệu doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu này, số lượng thành lập mới phải tăng lên và số chết đi phải giảm xuống, với bình quân số lượng tăng thêm mỗi năm khoảng 200.000 doanh nghiệp.

Nếu bám sát việc thực hiện mục tiêu này thì việc thay đổi sẽ tạo ra một cuộc cách mạng mới về môi trường kinh doanh. Chỉ riêng việc bám sát mục tiêu này hằng tháng, hằng năm thôi cũng trở thành một “cây gậy” cực kỳ tốt cho những người cải cách. Nhưng ai, cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm và giám sát thực hiện mục tiêu này?

Xin cảm ơn ông!

POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO