Phố Wall chao đảo
Thị trường tiếp tục bị chi phối bởi căng thẳng leo thang tại Trung Đông, khi xung đột giữa Mỹ và Israel với Iran làm dấy lên lo ngại về một cú sốc năng lượng mới và làn sóng lạm phát quay trở lại.
Tại Mỹ, các chỉ số chính trên Phố Wall đồng loạt giảm điểm. Chỉ số Dow Jones giảm 0,8%, S&P 500 giảm 0,9% và Nasdaq giảm 1%. Cụ thể, Dow Jones Industrial Average giảm 403,51 điểm, tương đương 0,83%, xuống 48.501,27 điểm; S&P 500 giảm 64,99 điểm, tương đương 0,94%, xuống 6.816,63 điểm; còn Nasdaq Composite mất 232,17 điểm, tương đương 1,02%, xuống 22.516,69 điểm. Đáng chú ý, S&P 500 lần đầu tiên đóng cửa dưới đường trung bình động 100 ngày kể từ 20/11, một tín hiệu kỹ thuật tiêu cực.
Chỉ số biến động Cboe (.VIX) ghi nhận mức đóng cửa cao nhất kể từ tháng 11, phản ánh tâm lý thận trọng gia tăng. Tỷ lệ cổ phiếu giảm giá so với tăng giá trên sàn NYSE là 4,1/1, trong khi trên Nasdaq là 2,81/1. Dù vậy, thị trường đã thu hẹp đáng kể mức giảm so với đáy trong phiên, cho thấy dòng tiền chưa rút lui hoàn toàn khỏi tài sản rủi ro.
Chứng khoán châu Á lao dốc, đồng won rơi xuống đáy 17 năm
Tâm lý lo ngại lan sang châu Á trong phiên 4/3. Tại Hàn Quốc, chỉ số Kospi giảm 4%, nâng tổng mức giảm hai ngày lên hơn 11%, trong bối cảnh nhà đầu tư nước ngoài bán tháo nhóm cổ phiếu chip. Đồng won rơi xuống mức thấp nhất trong 17 năm.
Chỉ số Nikkei của Nhật Bản giảm 2,5% phiên thứ ba liên tiếp. Nhật Bản và Hàn Quốc đều là các nền kinh tế phụ thuộc lớn vào nhập khẩu năng lượng, nên đặc biệt nhạy cảm với biến động giá dầu và khí đốt.
Trên thị trường tiền tệ, chỉ số USD Index đạt 99,103 điểm, mức cao nhất kể từ 28/11. Đồng euro giảm 0,1% xuống 1,1604 USD; đồng bảng Anh giảm 0,1% xuống 1,3340 USD; đô la Úc giảm 0,1% còn 0,7028 USD; đô la New Zealand giảm 0,1% xuống 0,5886 USD. So với yên Nhật, USD giảm nhẹ 0,1% xuống 157,555 yên, và giảm 0,1% so với nhân dân tệ offshore xuống 6,9139 CNY.
Bitcoin tăng 0,7% lên 68.533,21 USD và Ether tăng 1,1% lên 1.990,99 USD.
Vàng và bạc lao dốc
USD mạnh và lợi suất trái phiếu Mỹ tăng đã tạo áp lực lớn lên kim loại quý. Theo Kitco, giá vàng giao ngay lúc 6h30 ngày 4/3 (giờ Việt Nam) ở mức 5.043,92 USD/ounce, giảm 287,1 USD so với hôm qua. Trước đó trong phiên 3/3, vàng có thời điểm giảm hơn 250 USD xuống khoảng 5.067 USD/ounce. Quy đổi theo tỷ giá 26.298 VND/USD, giá vàng thế giới tương đương khoảng 165,69 triệu đồng/lượng (chưa thuế, phí), thấp hơn giá vàng miếng SJC khoảng 22,51 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, giá vàng đang có xu hướng hồi phục nhẹ.

Giá bạc giao ngay cũng giảm hơn 10%, xuống khoảng 79 USD/ounce.
Giá dầu Brent vượt 82 USD/thùng, nguồn cung Trung Đông tê liệt
Tâm điểm của thị trường vẫn là năng lượng. Giá dầu Brent tăng 1,11 USD, tương đương 1,4%, lên 82,53 USD/thùng, sau khi trước đó tăng 4,70 USD (6,1%) lên 82,44 USD và có lúc đạt 81,96 USD/thùng, mức cao nhất kể từ tháng 7/2024. Giá WTI tăng 79 cent lên 75,37 USD/thùng, sau khi từng tăng 4,43 USD (6,2%) lên 75,66 USD. Sang phiên 4/3, giá dầu có lúc giảm nhưng sau đó hồi phục.

Căng thẳng leo thang khiến giao thông qua eo biển Hormuz bị đình trệ ngày thứ tư liên tiếp. Số tàu chở dầu đi qua giảm còn 4 tàu/ngày vào 1/3, so với mức trung bình 24 tàu/ngày từ tháng 1. Iraq đã cắt giảm gần 1,5 triệu thùng/ngày và có thể phải ngừng tới 3 triệu thùng/ngày nếu xuất khẩu không nối lại. Riêng mỏ Rumaila giảm 700.000 thùng/ngày và West Qurna 2 giảm 460.000 thùng/ngày.
Tại Mỹ, dự trữ dầu thô tuần trước tăng 5,6 triệu thùng, cao hơn dự báo 2,3 triệu thùng. Tuy nhiên, rủi ro địa chính trị vẫn lấn át yếu tố cung cầu ngắn hạn.
Khí đốt Mỹ tăng 6%, thị trường LNG toàn cầu biến động mạnh
Giá khí đốt tự nhiên kỳ hạn tháng 4 trên sàn NYMEX tăng 18,7 cent, tương đương 6,3%, lên 3,147 USD/mmBtu, mức cao nhất hai tuần. Sản lượng khí đốt tại 48 bang lục địa Mỹ duy trì 109,2 bcfd trong tháng 3, so với kỷ lục 110,6 bcfd tháng 12/2025.
Lưu lượng khí tới 9 nhà máy LNG lớn của Mỹ giảm còn 18,4 bcfd, từ mức kỷ lục 18,7 bcfd tháng 2. Trong khi đó, Qatar tạm ngừng sản xuất LNG sau các cuộc tấn công, góp phần đẩy giá khí đốt toàn cầu tăng vọt.
Giá khí đốt chuẩn châu Âu đã tăng khoảng 65% trong hai ngày, trong khi đồng euro rơi xuống dưới 1,16 USD do lo ngại chi phí năng lượng leo thang sẽ gây áp lực lên tăng trưởng khu vực.
Kim loại cơ bản và nông sản phân hóa mạnh
Trên Sàn giao dịch kim loại London (LME), giá nhôm tăng 2,1% lên 3.260 USD/tấn, có lúc đạt 3.315 USD - cao nhất một tháng. Tồn kho nhôm tại LME giảm còn 375.525 tấn, thấp nhất kể từ tháng 9. Trong khi đó, đồng giảm 1,9% xuống 12.864 USD; thiếc lao dốc 7,7% còn 49.550 USD; niken giảm 0,2% xuống 17.120 USD; kẽm giảm 0,5% xuống 3.300 USD; chì giảm 0,8% xuống 1.945,5 USD.
Ở châu Á, giá cao su kỳ hạn tháng 8 trên Sở Osaka giảm 3,6 yên xuống 372,6 yên/kg; cao su tháng 5 trên sàn Thượng Hải giảm 265 nhân dân tệ xuống 16.835 nhân dân tệ/tấn; trong khi cao su butadien tháng 4 tăng 475 nhân dân tệ lên 13.530 nhân dân tệ/tấn. Trên SICOM Singapore, hợp đồng cao su tháng 4 giảm 2,3% còn 198,6 cent Mỹ/kg.
Tại Chicago, đậu tương CBOT tăng 0,37% lên 11,68-1/4 USD/bushel; dầu đậu nành tăng 0,48% lên 63,04 cent/pound. Ngô tăng 0,11% lên 4,46-1/4 USD/bushel nhờ nhu cầu xuất khẩu mạnh. Ngược lại, lúa mì giảm 0,09% xuống 5,76-3/4 USD/bushel do nguồn cung toàn cầu dồi dào.
Lạm phát trở lại là nỗi lo trọng tâm
Giới đầu tư đang đặc biệt quan ngại việc giá năng lượng tăng kéo dài có thể khiến lạm phát quay trở lại và buộc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ duy trì lãi suất cao lâu hơn. Theo CME FedWatch Tool, xác suất Fed giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp tháng 6 là khoảng 60%, tăng từ 45% trước khi căng thẳng bùng phát.
Diễn biến giá một số hàng hóa, ghi nhận sáng 4/3:


