Kinh tế – xã hội thế giới trải qua một năm nhiều biến động và bất định, khi xung đột vũ trang, cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, chiến tranh thuế quan cùng tác động ngày càng nghiêm trọng của thiên tai, biến đổi khí hậu tiếp tục đe dọa an ninh năng lượng, an ninh lương thực và hòa bình toàn cầu.
Trong nước, năm 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng – năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021–2025. Bên cạnh những thuận lợi, nền kinh tế phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do thiên tai, mưa bão, lũ lụt gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất, kinh doanh và đời sống Nhân dân.
Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt, kịp thời của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã chủ động theo dõi sát tình hình, triển khai đồng bộ các giải pháp, qua đó giúp kinh tế vĩ mô duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát và đạt nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực.
Cụ thể, theo báo cáo của Bộ Tài chính, tình hình KTXH năm 2025 của nước ta ước đạt được mục tiêu tổng quát và nhiều kết quả quan trọng, hoàn thành và vượt 15/15 chỉ tiêu chủ yếu.
Trong đó, tăng trưởng GDP quý sau cao hơn quý trước; cả năm 2025 ước đạt 8,02%, thuộc nhóm dẫn đầu thế giới. Bình quân giai đoạn 2021–2025, tăng trưởng đạt khoảng 6,3%, cao hơn giai đoạn trước.
GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao, vượt mục tiêu đề ra. Quy mô GDP năm 2025 ước đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ 32 thế giới.
Theo dự báo mới nhất của Trung tâm dự báo, phân tích kinh tế độc lập của Anh (CEBR) tại Bảng xếp hạng liên minh kinh tế thế giới (World Economic League Table – WELT), trong những năm gần đây, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP mạnh mẽ, vượt mức trung bình toàn cầu, thuộc nhóm cao nhất trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Trong thập kỷ tiếp theo, CEBR dự báo nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng trung bình 5,3% mỗi năm. Trong vòng 15 năm tới, vị thế của Việt Nam trên Bảng xếp hạng Kinh tế Thế giới sẽ có sự cải thiện. Cụ thể, quy mô GDP của Việt Nam được dự báo sẽ đạt 524 tỷ USD trong năm 2025 và đến năm 2040, quy mô GDP của Việt Nam sẽ đạt 1.407 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 27 trên thế giới.
Đáng chú ý, các chuyên gia CEBR ước tính, thứ hạng quy mô kinh tế của Việt Nam có thể tăng nhanh trong tương lai. Cụ thể, CEBR dự báo, đến năm 2035, với quy mô GDP dự kiến đạt 994 tỷ USD, Việt Nam sẽ vươn lên vị trí thứ 27, vượt qua các nền kinh tế khác trong khu vực ASEAN như Singapore (864 tỷ USD), Thái Lan (839 tỷ USD).
Việt Nam đặt mục tiêu về các chỉ số kinh tế ra sao trong năm 2026?
Năm 2026 là năm có ý nghĩa quan trọng, diễn ra Đại hội lần thứ XIV của Đảng, tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, bước vào Kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.
Trong bối cảnh đó, NQ244/2025/QH15 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 được Quốc hội thông qua vào tháng 11/2025 nêu rõ, về mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo điều hành đồng bộ, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả các chính sách kinh tế vĩ mô, các giải pháp trên các lĩnh vực để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
GDP bình quân đầu người đạt 5.400-5.500 đô la Mỹ (USD); Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 24,96%; Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4,5%.
Trong đó, tiếp tục điều hành chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, tăng cường quản lý thu, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời. Phát huy nguồn lực từ ngân sách Nhà nước kết hợp với nguồn lực xã hội để triển khai hiệu quả các đột phá chiến lược và các Nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị.
Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp, bảo đảm khả năng tiếp cận vốn với chi phí hợp lý. Hướng tín dụng vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Quản lý chặt chẽ thị trường vàng, bất động sản. Phát triển mạnh thị trường trong nước, thúc đẩy du lịch, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, khai thác hiệu quả các FTA đã ký kết và các thị trường xuất khẩu tiềm năng.

